PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Trong 4 tháng đầu năm 2023, Việt Nam có 3 mặt hàng nông sản đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên, bao gồm rau quả, cà phê và gạo.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu 3 mặt hàng nông sản trên đạt 4,52 tỷ USD, chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2023.

Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2023 đạt 1,37 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2022. Trung Quốc hiện là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất với 804 triệu USD, tương ứng chiếm 58% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm.

Đứng thứ 2 là thị trường Mỹ với 72,6 triệu USD; tiếp đến là Nhật Bản với 54 triệu USD; Hà Lan với 45 triệu USD; Thái Lan với 30,3 triệu USD…

Trong tổng số 27 thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu sang Hà Lan và Lào có mức tăng trưởng cao nhất với +72% và +56% so với cùng kỳ năm 2022, đạt lần lượt 45 triệu USD và 14,5 triệu USD.

Ngược lại, Campuchia là thị trường có mức giảm lớn nhất với -60% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 10,1 triệu USD; tiếp đến là thị trường Hong Kong với -34%, đạt 11,6 triệu USD…

Tại thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường này tăng tới 29,9% so với cùng kỳ năm 2022, từ 619 triệu USD (cùng kỳ năm 2022) lên 804 triệu USD, góp phần quan trọng đưa tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam ra thế giới tăng trưởng 2 con số (bất chấp việc có 12/27 thị trường xuất khẩu rau quả ghi nhận suy giảm).

Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam 4 tháng đầu năm đạt 1,52 tỷ USD với 2,8 triệu tấn gạo, tăng lần lượt 51% và 40% so với cùng kỳ năm 2022.

Mức tăng này diễn ra ở hầu hết các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Philippines đạt 1,28 triệu tấn với 647 triệu USD, tăng lần lượt 40% và 53% so với cùng kỳ năm 2022.

Đáng chú ý, tại thị trường Indonesia, mức tăng trưởng về lượng và trị giá lần lượt đạt +2.497% và +2.533% so với cùng kỳ năm 2022. Tương ứng tăng từ 11.799 tấn (cùng kỳ năm 2022) lên 306.496 tấn và từ 5,66 triệu USD lên 149 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu gạo sang Trung Quốc của Việt Nam đạt 292 triệu USD, tăng 88%; sang Malaysia đạt 77 triệu USD, tăng 43%...

Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu gạo sang Bangladesh ghi nhận giảm tới 70%, chỉ còn đạt 0,11 triệu USD; tiếp đến là Bờ Biển Ngà với 49%, đạt 45 triệu USD; Pháp giảm 27%, đạt 0,8 triệu USD…

4 tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất khẩu 716.580 tấn cà phê, đạt 1,62 tỷ USD, giảm lần lượt 5,5% và 4% so với cùng kỳ năm 2022.

Kim ngạch khẩu cà phê sang một số thị trường ghi nhận tăng trưởng tới 3 con số như Thái Lan +213% so với cùng kỳ năm 2022, Rumani với 123%, Algeria với 103%, Mexico với 583%, Myanmar với 111%, New Zealand với 105%, Chile với 159%.

Tuy nhiên, một số thị trường trên hiện vẫn chưa phải thị trường chủ lực của cà phê Việt Nam khi kim ngạch còn ở mức nhỏ, do vậy sự tác động lên tăng trưởng trị giá xuất khẩu chưa cao. Cụ thể, trị giá xuất khẩu cà phê sang Myanmar đạt 4,9 triệu USD, New Zealand đạt 1,7 triệu USD, Rumani đạt 3,7 triệu USD và Chile đạt 3,1 triệu USD.

Trong 4 tháng đầu năm 2023, các thị trường xuất khẩu cà phê lớn của Việt Nam là Đức ghi nhận giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 205 triệu USD; Nhật Bản giảm 10,8%, đạt 98 triệu USD; Bỉ giảm 53%, đạt 74 triệu USD; Tây Ban Nha giảm 29%, đạt 81 triệu USD…Ngược lại, xuất khẩu cà phê sang Mỹ tăng 16,3%, đạt 120 triệu USD; Italy tăng 20,3%, đạt 148 triệu USD; Nga tăng 56,3%, đạt 95,8 triệu USD…

Giá tiêu hôm nay (17/5) ổn định trở lại tại các tỉnh trọng điểm trong nước, dao động trong khoảng 73.000 - 76.500 đồng/kg, với mức cao nhất là tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Theo khảo sát, giá tiêu tại các tỉnh trọng điểm trong nước vẫn duy trì ổn định trong khoảng 73.000 - 76.500 đồng/kg.

Trong đó, Gia Lai đang là địa phương có mức giá thu mua thấp nhất với 73.000 đồng/kg.

Kế đó là Đồng Nai, Đắk Lắk và Đắk Nông đang thu mua hồ tiêu với chung mức giá 74.000 đồng/kg.

Tương tự, giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt đi ngang tại mức 76.000 đồng/kg và 76.500 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: đồng/kg)

Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: đồng/kg)

Đắk Lắk

74.000

-

Gia Lai

73.000

-

Đắk Nông

74.000

-

Bà Rịa - Vũng Tàu

76.500

-

Bình Phước

76.000

-

Đồng Nai

74.000

-

Giá tiêu thế giới

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 16/5 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 15/5 như sau:

- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.628 USD/tấn, tăng 0,03%

- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.950 USD/tấn, không đổi

- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 15/5

Ngày 16/5

% thay đổi

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

3.627

3.628

0,03

Tiêu đen Brazil ASTA 570

2.950

2.950

0

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

4.900

4.900

0

- Tiêu trắng Muntok: ở mức 6.171 USD/tấn, tăng 0,02%

- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 15/5

Ngày 16/5

% thay đổi

Tiêu trắng Muntok

6.170

6.171

0,02

Tiêu trắng Malaysia ASTA

7.300

7.300

0

Cơ quan Đàm phán Thương mại Quốc tế thuộc Bộ Thương mại Indonesia cho biết, kể từ cuối thế kỷ 16, Indonesia đã là nhà cung cấp quan trọng cho thương mại hồ tiêu thế giới. Đến nay, đây vẫn là một trong những mặt hàng đóng góp lớn nhất cho nguồn thu ngoại tệ của đất nước.

Theo số liệu của Cục Thống kê Trung ương Indonesia, giá trị hồ tiêu xuất khẩu của quốc gia này trong giai đoạn 2018 - 2022 vượt mốc 775 triệu USD với khối lượng trung bình khoảng 45 nghìn tấn.

Có thể thấy, Indonesia là quốc gia có diện tích trồng tiêu lớn thứ ba trên thế giới, nhưng một trong những thách thức mà thị trường nay đang phải đối mặt là tình hình giá tiêu đang ở mức thấp tại các trang trại.

Để hỗ trợ ngành hồ tiêu Indonesia phát triển, một trong những chương trình chính của Chính phủ Indonesia là tăng sản lượng hồ tiêu với giá trị gia tăng cao.

Hồ tiêu Indonesia với chất lượng cao được biết đến như một sản phẩm cao cấp so với các sản phẩm từ các nước sản xuất khác.

Do đó, những lợi ích này cần được thúc đẩy và duy trì trong nước và quốc tế thông qua các kỹ thuật trồng tiêu và chế biến tiêu tuân thủ các thực hành nông nghiệp tốt. Bước chiến lược này cũng phải được hỗ trợ bởi sự đổi mới sản xuất và chiến lược tiếp thị.

Nguồn: vietnambiz

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), toàn cầu ghi nhận thêm hơn 2,729 triệu ca mắc và 17.112 ca tử vong do COVID-19 trong 28 ngày qua, trong đó mức tăng mạnh ghi nhận ở phần lớn châu Á.

Theo báo cáo Người Lao Động nhận được từ WHO sáng 12-5, Tây Thái Bình Dương - khu vực dịch tễ mà tổ chức này xếp Việt Nam vào - dẫn đầu về số ca mắc mới với hơn 975.000 ca, tăng tới 35% so với chu kỳ trước.

Nguyên nhân chủ yếu do mức gia tăng ở các quốc gia ven Thái Bình Dương, vốn vừa "đảo chiều" sau chu kỳ sụt giảm vài tuần trước. Có 30% các quốc gia khu vực này báo cáo mức tăng mạnh trên 20%, trong đó cao nhất là Việt Nam, Mông Cổ và Lào.

Trong khi đó, 3 quốc gia có số ca mắc nhiều nhất là Hàn Quốc (361.691 ca), Nhật Bản (262.145 ca) và Úc (114.460 ca). Đây cũng là 3 quốc gia có số tử vong nhiều nhất. Tuy nhiên xét chung thì với 1.387 ca tử vong mới cho cả khu vực, xu thế giảm sâu về tử vong vẫn tiếp tục (giảm 33%).

Việt Nam báo cáo 46.230 ca trong 28 ngày, tăng 6.862%, tuy nhiên mức tăng khủng này chủ yếu do chu kỳ 28 ngày trước đó báo cáo chỉ 664 ca.

Châu Âu và châu Mỹ báo cáo lần lượt hơn 800.000 và hơn 647.000 ca mắc COVID-19 mới, giảm sâu 38% và 35% so với chu kỳ trước đó. Tuy nhiên hai khu vực này lại có số ca tử vong cao, lần lượt là 6.345 và 7.483 ca.

Đông Nam Á báo cáo số ca hạn chế so với mức tăng toàn khu vực, có thể do độ phổ biến của xét nghiệm kém hơn so với các khu vực kia: 258.500 ca mắc mới, tăng 223%. Khu vực dịch tễ này bao gồm Nam Á và một phần Đông Nam Á địa lý.

91% số quốc gia trong khu vực dịch tễ Đông Nam Á báo cáo mức tăng trên 20%, cao nhất là Myanmar (tăng 1.252%), Thái Lan (tăng 659%).

Ba quốc gia nhiều ca mắc nhất là Ấn Độ (tăng 222%), Indonesia (tăng 199%), Thái Lan, cũng là 3 quốc gia có số ca tử vong do COVID-19 cao nhất khu vực. Tuy nhiên Thái Lan chỉ có 27 ca tử vong; trong khi Ấn Độ và Indonesia chiếm hầu hết số tử vong của khu vực dịch tễ này, lần lượt là 715 và 407 ca.

Hai khu vực dịch tễ còn lại là Đông Địa Trung Hải và châu Phi báo cáo số ca hạn chế. Trong đó, Đông Địa Trung Hải, vốn bao gồm Tây Á địa lý là khu vực có số ca tăng mạnh trước đó, đang thể hiện xu hướng "hạ nhiệt".

Nguồn: Báo Người Lao Động online

Page 55 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]