Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Thị trường cà phê nhìn theo yếu tố cung-cầu
Sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2022/23 được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tăng 7,8 triệu lên 175 triệu bao nhờ arabica Brazil vào chu kỳ được mùa. Trong đó, USDA dự đoán sản lượng arabica Brazil chừng 41,5 triệu bao và robusta 22,8 triệu bao, Việt Nam 30,8 triệu bao chủ yếu robusta, Colombia 13 triệu bao arabica, Indonesia 11,4 triệu bao gồm 10 triệu bao robusta. Tiêu thụ cà phê ước ngang bằng hay tăng không đáng kể lên trong vùng 170-171 triệu bao nếu lấy con số của ICO. Thặng dư từ 5-8 triệu bao cà phê trong niên vụ mới. Như vậy, chỉ cần sản lượng của 4 nước xuất khẩu hàng đầu với tổng cộng chừng 120 triệu bao, đã có thể thỏa mãn 68% nhu cầu tiêu thụ thế giới.
Yếu tố tiền tệ dưới tác động của lạm phát
Giá trị đồng USD mạnh lên phá giá các đồng nội tệ khác. Ngay cả các đồng tiền mạnh như Bảng Anh (GBP), Euro, Nhân dân tệ (CNY)…kể cả hai đồng nội tệ của hai nước Brazil và Việt Nam là Reais Brazil (BRL) và VN Đồng (VND) cũng yếu đi nhiều so với USD. Mới đây, giá trị GBP rớt về mức thấp lịch sử trong cặp tỷ giá USDGBP, đồng Euro có lúc lõm xuống dưới USD, CNY giảm xuống mức sâu nhất tính từ 14 năm nay, VND qua mức 24.000 VND ăn 1 USD…
Một đồng USD mạnh khiến giá trị đồng tiền các nước giảm, nhất là các nước tiêu thụ, nên cản trở nhập khẩu. Mặt khác, lạm phát cao cũng làm người tiêu thụ phải đắn đo trước quày hàng, quán xá. Lãi suất điều hành tại các nước nhập khẩu tăng cao hạn chế nhà kinh doanh gom trữ hàng để bán đường dài.
Đối với nước xuất khẩu, đồng tiền mất giá sẽ tạo thêm sức ép bán mạnh vì thu nhập tính theo đồng nội tệ lớn hơn. Nếu kết hợp với yếu tố thặng dư cà phê, thì áp lực bán từ cả 2 phía từ tác động của đồng nội tệ bị mất giá so với USD và bản thân nguồn cung dồi dào. Trường hợp lạm phát tại các nước tiêu thụ và lãi suất điều hành tăng càng gây căng thẳng thêm cho dòng chảy đưa hàng ra thị trường nước ngoài. Chính vì thế, hàng hóa có khi phải đi lòng vòng trong nước. Hệ quả sẽ là giá cà phê nội địa đôi lúc cao hơn giá mua có thể được nhà nhập khẩu chấp nhận. Điều này sẽ gây ách tắc cho kinh doanh, ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu chung.
Giá cả
Dịch Covid-19 tạo nên khủng hoảng logistics, gây đứt gãy chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu. Chiến tranh Nga-Ukraine gây thêm khó khăn nhất là nguồn phân bón khan hiếm, giá năng lượng đắt đỏ, chi phí sản xuất tăng cao. Tình trạng này đã phản ánh lên giá cả trên hai sàn và cả trên thị trường nguyên liệu trong nước.
Giá kỳ hạn robusta tháng 01/23 có lúc chạm 2.499 USD/tấn (27/12/21) và giá arabica tháng 12/22 chạm đỉnh 260.45 cts/lb nhưng sau đó London về đáy 1.905 USD/tấn và New York 199.20 cts/lb nhưng lại phục hồi để 2 sàn đứng tại mức đóng cửa tại phiên giao dịch cuối niên vụ là robusta 2.146 USD/tấn và arabica 212.55 cts/lb.
Cấu trúc giá đảo nghịch (backwardation) hay người trên thị trường thường gọi là “vắt giá”, xuất hiện trên cả hai sàn do khủng hoảng thiếu containers làm tồn kho đạt chuẩn giảm. “Vắt giá” đã tác động để giúp giá cà phê phục hồi và đứng ở mức cao và các quỹ đầu tư tài chính tăng cường mua khống để “thủ” cho vị thế kinh doanh của họ. Như vậy, bao lâu tình trạng vắt giá hạ nhiệt, cũng có nghĩa là tình hình tàu bè ổn định, thì giá cả mới dịu bớt.
Nhiều người dự đoán giá bình quân trên hai sàn cà phê phái sinh trong năm 2022 arabica quanh mức 195-200 cts/lb, robusta trong khoảng 2.000 USD/tấn với dung sai +/-100 USD. Như vậy, nếu sàn giải quyết được hiện tượng giá đảo nghịch, giá dễ xuống vùng thấp, nếu còn vắt giá, sẽ lơ lửng tại vùng cao của các dự đoán ấy.
Giá cà phê nguyên liệu tại các nước sản xuất, nhất là tại Việt Nam, không nhất thiết phải theo giá trên sàn như một “tham chiếu cứng”. Thị trường nội địa phần lớn phụ thuộc vào tình hình mất giá của các đồng nội tệ nếu dựa trên cơ sở hiện nay là 47-48 triệu đồng/tấn.
Qua năm 2023 có thể khác đi vì Brazil vào chu kỳ năm mất mùa cho niên vụ 2023/24. Dự đoán về giá còn phụ thuộc vào đợt ra hoa của Brazil từ tháng 10/22 trở đi và tình hình mưa lũ do La Nina gây nên tại Việt Nam.
Rất có thể rằng đứng trước áp lực tăng lãi suất điều hành của Mỹ, nguồn tín dụng thắt chặt, các nhà kinh doanh trên sàn phải thanh lý ít nhiều các hợp đồng mua khống. Nếu thế giá phái sinh còn yếu trong 3 tháng đầu niên vụ. Nhưng trong nửa đầu năm 2023, do vụ mùa Brazil nhỏ theo quy luật, họ có thể quay lại mua, đồng lúc chương trình tăng lãi suất của các ngân hàng, thì mới hy vọng giá cà phê phái sinh phần nào tốt hơn.
Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH
Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 03/10/22
London tháng 11/22 và 1/23
2173+20(2181/2150)
2163+17(2168/2143)
New York tháng 12/22 và 03/23
215.75-5.8(222.65/214.75)
207.35-5.2(213.5/206.5)
Thông số ảnh hưởng giá cà phê
-Giá cách biệt 2 sàn arabica 12/22 với robusta 11/22: 109.23 vs 115,21 cts/lb.
-Chỉ số DXY: 111,55 vs 112,16 (đỉnh trong kỳ 114.74) .
-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 5,16 vs 5,41 . Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!
Lời bàn về thị trường:
-Tin đáng quan tâm bậc nhất những ngày đầu vụ cà phê mới 22/23 là hợp đồng đường dài giá cước tàu biển containers giảm ngay cuối tháng 9/22 sau khi tăng phi mã trong thời đại dịch Covid-19. Cước từ Thượng Hải (TQ) đến Los Angeles (Mỹ) giảm hơn 70% tính từ đỉnh lập tháng 9/21 do nhu cầu nhập hàng vào Mỹ giảm và tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các kho có phần dễ thở hơn. Tuy vậy, giá cước hiện nay vẫn cao hơn trước tời đại dịch đến 112%. Dù sao thì nghe cước tàu containers giảm, người mua cước cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn.
-Trung Quốc đang bị rắc rối vì nợ. Rõ ràng TQ là nước cho vay lớn nhất thế giới đối với các nước phát triển. Nhưng TQ sẽ gia nhập Câu lạc bộ Paris để giảm hay giãn nợ cho các nước đi vay như trường hợp Zambia chẳng hạn. Ngoài Zambia, còn có các nước như Sri Lanca, Ethiopia, Pakistan, Ghana, Ai Cập…là những con nợ của Trung Quốc, đang chờ TQ giảm hay giãn nợ cho họ.
-Giá cà phê đóng cửa có kết quả nghịch chiều. London tăng tốt nhưng New York giảm sâu.
-Tin mưa rất thuận cho vụ mùa tới tại Brazil đã quét giá arabica đi một cách thương tâm. Đồng BRL được giá trở lại nhưng cũng chẳng giúp gì cho giá arabica.
-Dự kiến giá cà phê nội dịa hôm nay quanh mức 47,4 triệu đồng/tấn, so với hôm qua 47 triệu đồng/tấn. Giá tiêu đen tại Tây Nguyên quanh mức 65-70 triệu đồng/tấn.
Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH
Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 9 tháng năm 2022 đạt 40,8 tỷ USD; Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản là những thị trường mua nông sản của Việt Nam nhiều nhất.
Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ NNPTNT, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Phùng Đức Tiến thông tin, 9 tháng năm 2022, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt khoảng 40,8 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu nhóm nông sản chính trên 16,8 tỷ USD; lâm sản chính khoảng 13,3 tỷ USD; thủy sản trên 8, 5 tỷ USD.
Đến nay, có 7 sản phẩm, nhóm sản phẩm đạt giá trị xuất khẩu trên 2 tỷ USD, gồm cà phê, cao su, gạo, rau quả, điều, tôm, sản phẩm gỗ.
Đáng chú ý, có nhiều mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu cao hơn cùng kỳ năm trước như: Cà phê gần 3,1 tỷ USD, tăng 37,6%; cao su trên 2,3 tỷ USD, tăng 7,7%; sắn và sản phẩm từ sắn trên 1 tỷ USD; cá tra trên 1,9 tỷ USD, tăng 83,3%; tôm gần 3,5 tỷ USD, tăng 24,8%.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD, chiếm 25,8% thị phần; đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc khoảng 7,4 tỷ USD, chiếm 18,2% thị phần; thứ 3 là thị trường Nhật Bản, đạt 3,1 tỷ USD; thứ tư là thị trường Hàn Quốc.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, kết quả của ngành nông nghiệp trong 9 tháng đầu năm đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô.
Năm 2022, Bộ NNPTNT đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 55 tỷ USD (cao hơn Chính phủ giao).
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, để đạt được mục tiêu này, Bộ NNPTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, hướng dẫn, định hướng các địa phương nhất là các vùng trọng điểm về sản xuất lúa gạo, chăn nuôi, thủy sản có kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế, mở cửa thị trường, ở thị trường trong nước tập trung phát triển đa dạng các kênh tiêu thụ lương thực, thực phẩm; bảo đảm nguồn cung và ổn định giá thực phẩm, giá thịt lợn để góp phần giữ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong ngưỡng cho phép, nhất là dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023.
"Bộ NNPTNT sẽ tăng cường các giải pháp về thị trường để bảo đảm mục tiêu mà Thủ tướng Chính phủ giao cho ngành nông nghiệp trong năm nay", Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
"Từ nay đến cuối năm còn 3 tháng, về xuất khẩu còn nhiều khó khăn do đơn hàng giảm nhiều, dấu hiệu tồn kho còn, sức mua giảm. Tuy nhiên, với mục tiêu đạt trên 50 tỷ USD thì chúng ta sẽ hết sức phấn đấu, cố gắng thông qua các giải pháp về thị trường để bảo đảm mục tiêu đề ra", Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nói.
Nguồn: Báo Dân Việt online
Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Trần Quốc Phương, nếu diễn biến kinh tế thuận lợi, không có đột biến, tốc độ tăng trưởng GDP cả năm của cả nước dự kiến đạt khoảng 8%.
Tại buổi họp báo thường kỳ của Văn phòng Chính phủ tháng 9 vào chiều 1/10, Thứ trưởng Bộ KHĐT cho hay, kết quả tăng trưởng GDP là tổng hòa của rất nhiều nguyên nhân, từ tác động của tăng trưởng kinh tế các ngành, các cấp, các lĩnh vực, các địa phương, các chủ thể kinh tế…
Vì thế, Bộ KHĐT đã đưa ra các kịch bản tăng trưởng của GDP nước ta trong quý 4 cũng như cả năm 2022, với 2 kịch bản.
Kịch bản thấp là dự kiến trong quý 4, tình hình kinh tế được đánh giá là vẫn còn nhiều khó khăn, khó đoán định, nên Bộ KHĐT đã đưa ra phương án thấp là tăng trưởng đạt 7,5%. Với kịch bản là trong bối cảnh diễn biến như hiện nay, không có đột biến, thuận lợi đối với nền kinh tế từ bên ngoài, Bộ KHĐT dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP cả năm khoảng 8%.
Về triển vọng kinh tế 2023, Thứ trưởng Bộ KHĐT nhận định, bối cảnh tình hình năm 2023 vẫn là khó khăn, thách thức, thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn nhiều hơn và thậm chí còn khó hơn.
Thứ nhất là vấn đề sức ép lạm phát và tăng trưởng của kinh tế thế giới trong năm 2023 là vô cùng khó khăn. Vấn đề lạm phát toàn cầu, đặc biệt là lạm phát của các nền kinh tế lớn, các đối tác của nước ta khó có thể kết thúc trong 1-2 tháng tới và có thể kéo dài thêm và chắc chắn sẽ sang năm 2023. Do đó, các chính sách kiểm soát lạm phát mang tính cường độ rất cao của các nền kinh tế lớn rất dễ dẫn tới suy thoái kinh tế, nên thời gian phục hồi sẽ lâu hơn. Do vậy, Bộ KHĐT dự báo bối cảnh tình hình kinh tế thế giới 2023 rất khó khăn.
Thứ hai, chúng ta cần hết sức lưu ý là xung đột Nga– Ukraine hiện nay chưa có dấu hiệu kết thúc. Cuộc xung đột này kéo theo một vấn đề rất lo ngại là năng lượng, bởi sẽ quyết định rất nhiều đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trong đó có nước ta. Căng thẳng này nếu đẩy lên một mức độ cao hơn nữa có thể sẽ dẫn tới các hệ lụy vô cùng khó cho an ninh năng lượng, an ninh lương thực, nguồn cung hàng hóa.
Và nguy cơ cuối cùng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế năm 2023 là tác động của các vấn đề nguy cơ phi truyền thống như bão lũ, dịch bệnh.
Cũng tại buổi họp báo, về số liệu giải ngân vốn đầu tư công, Thứ trưởng Bộ KHĐT cho biết, trong báo cáo gửi Chính phủ, Bộ KHĐT đã nêu rõ tỷ lệ giải ngân đạt 46,7% tổng số kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao, tuy có thấp hơn so với cùng kỳ năm trước về tỷ lệ %, khi tỷ lệ này năm ngoái là 47,38%, nhưng số tuyệt đối cao hơn năm trước là gần 35 nghìn tỷ đồng.
Theo đại diện lãnh đọa Bộ KHĐT, nguyên nhân chính là do tổng lượng vốn đầu tư công năm 2022 nhiều hơn tổng lượng vốn đầu tư công năm 2021 nên tỷ trọng % có thể thấp hơn một chút, nhưng hệ số tuyệt đối về vốn thì cao hơn, dẫn đến kết quả là vốn đầu tư công giải ngân năm 2022 cao hơn về số tuyệt đối so với năm 2021 là 16%.
Nguồn: Haiquanonline
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "