Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Điều 89.2 của luật này quy định từ ngày 1-1-2016 đến ngày 31-12-2017, tiền lương tháng đóng BHXH bao gồm: (1) mức lương; và (2) phụ cấp lương theo quy định của pháp luật lao động được ghi trong hợp đồng lao động (HĐLĐ).
Như vậy, mỗi tháng doanh nghiệp phải chi thêm 18% các khoản phụ cấp lương để đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ.
Doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, tất nhiên không muốn gánh thêm chi phí này, nhưng cũng không thể cắt giảm toàn bộ phụ cấp lương đã trả cho NLĐ như trước đây. Theo điều 23.1 và điều 35 của Bộ luật Lao động, doanh nghiệp phải thỏa thuận với NLĐ để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ trước khi cắt giảm phụ cấp lương và lẽ thường, không NLĐ nào lại đồng ý với doanh nghiệp trong trường hợp này.
Còn về mặt quản lý nhân sự, nếu không đảm bảo thu nhập của NLĐ tăng lên theo thời gian mà chỉ tìm cách cắt giảm các khoản khác ngoài tiền lương, doanh nghiệp sẽ đứng trước nguy cơ không giữ được NLĐ lâu dài. Tình trạng mất NLĐ với số lượng lớn và thường xuyên trong các doanh nghiệp sản xuất sẽ gây ra khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp trong việc vận hành nhà máy và đảm bảo tiến độ, chất lượng đơn hàng.
Để giảm thiểu phần nào khoản chi phí BHXH phát sinh nhưng vẫn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, trên thực tế nhiều doanh nghiệp đang vận dụng một trong các cách làm sau:
Chuyển các khoản phụ cấp lương hiện tại thành tiền thưởng
Doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với NLĐ để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ theo hướng định danh lại các khoản phụ cấp lương thành tiền thưởng vì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm tiền thưởng theo quy định tại điều 103 của Bộ luật Lao động(1), (lưu ý là các khoản khác như tiền ăn giữa ca, khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại... chỉ chiếm một phần nhỏ trong phần chung “các khoản bổ sung khác mang tính chất chế độ và phúc lợi khác”). NLĐ sẽ dễ dàng đồng ý với đề xuất này bởi thu nhập của NLĐ từ tiền lương vẫn không thay đổi trong khi NLĐ cũng không bị khấu trừ thêm 8% phụ cấp lương để đóng BHXH (trong trường hợp NLĐ được trả lương trước thuế).
Xét câu chữ thì rõ ràng khoản tiền thưởng không phải là phụ cấp lương theo tinh thần của điều 4 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH và sẽ không được gộp vào tiền lương để làm cơ sở tính tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ, nhưng bản chất của khoản tiền thưởng mới được gọi tên này dường như chưa đúng cả ở quy định pháp luật lẫn nghĩa thông thường.
Cơ bản thì bản chất của tiền thưởng là một khoản thu nhập bổ sung mang tính khuyến khích NLĐ để họ nhiệt tình, có thêm những đóng góp có ích cho doanh nghiệp và NLĐ được nhận tiền thưởng như vậy phải đáp ứng các điều kiện để xứng đáng nhận tiền thưởng hơn những NLĐ khác. Điều 103 của Bộ luật Lao động cũng đã quy định tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ.
Sẽ là khập khiễng khi xác định ngay từ cuối năm Dương lịch này tất cả NLĐ đều sẽ nhận được hàng tháng khoản tiền thưởng cố định trong suốt năm làm việc tiếp theo dù bản thân doanh nghiệp cũng chưa biết kết quả hoạt động kinh doanh của mình ra sao trong tương lai. Và càng khiên cưỡng hơn nữa khi nhiều doanh nghiệp cơ cấu tiền lương thấp hơn tiền thưởng hàng tháng. Dù vậy, ở phía ngược lại, doanh nghiệp vẫn có thể lập luận rằng tiền thưởng này đã căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ trong năm vừa qua, nhưng thay vì trả một lần vào cuối năm thì doanh nghiệp chia đều để định kỳ trả khoản tiền thưởng này trong suốt năm làm việc sắp tới của NLĐ.
Cách làm này rất phổ biến nhưng trong quá trình triển khai, nhiều doanh nghiệp quên rằng theo Bộ luật Lao động, quy chế thưởng phải được công bố tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, phải cụ thể hóa điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ như HĐLĐ hay thoả ước lao động tập thể. Do vậy, nếu chưa thực hiện đầy đủ những việc này, doanh nghiệp vẫn có thể bị xem là chưa tuân thủ quy định và không được chấp nhận loại khoản tiền thưởng định kỳ hàng tháng ra khỏi cách xác định tiền lương tháng dùng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ. Ngoài ra, khoản tiền thưởng đã trả còn có thể không được ghi nhận là chi phí được trừ theo các quy định thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ghi giảm mức lương theo HĐLĐ và trả tiền lương làm thêm giờ bù đắp
Một số doanh nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp sản xuất, gia công đang vận dụng điều 21 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP và điều 3.2 của Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH để chia nhỏ tiền lương của NLĐ bao gồm tiền lương làm thêm giờ. Theo đó, tiền lương ghi trong HĐLĐ do doanh nghiệp thỏa thuận với NLĐ sẽ bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, nhưng mức lương không bao gồm khoản tiền trả thêm khi NLĐ làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Doanh nghiệp sẽ giải thích và thuyết phục NLĐ ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung HĐLĐ hoặc HĐLĐ mới ghi nhận mức lương NLĐ nhận theo HĐLĐ sẽ thấp hơn mức lương trước đây nhưng không thấp hơn lương tối thiểu vùng, và ngầm hiểu với nhau rằng phần chênh lệch sẽ vẫn được doanh nghiệp trả đủ cho NLĐ dưới một tên gọi khác là tiền lương làm thêm giờ. Như vậy, doanh nghiệp chỉ phải đóng BHXH bắt buộc hàng tháng cho NLĐ theo mức lương bằng hoặc cao hơn chút ít so với lương tối thiểu vùng, chứ không phải đóng trên toàn bộ tiền lương của NLĐ.
Chưa rõ, cơ quan BHXH sẽ có ý kiến như thế nào về việc tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ có bao gồm tiền lương làm thêm giờ hay không, nhưng trước mắt, cách làm này của doanh nghiệp sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc cấu trúc lại hệ thống tính toán tiền lương và các công việc hành chính kéo theo.
Do (số) tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân(2) nên NLĐ sẽ được lợi hơn so với việc phải đóng thuế thu nhập cá nhân trên toàn bộ tiền lương theo HĐLĐ như trước. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp với doanh nghiệp sau này, NLĐ sẽ gặp khó khăn trong việc chứng minh tiền lương thực tế của họ.
Về phía doanh nghiệp, nếu áp dụng cách này, sẽ rất vất vả cho các phòng ban nội bộ khi phải xem xét hệ thống chứng từ kế toán nội bộ, cơ cấu lại hệ thống tiền lương và chi trả lương, tiền lương làm thêm giờ cho NLĐ trong toàn bộ doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sử dụng hàng ngàn lao động sản xuất. Bởi lẽ, doanh nghiệp phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho NLĐ và phải xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.
Hơn nữa, với việc tháng nào NLĐ cũng phải làm thêm giờ theo cách này, doanh nghiệp có thể rơi vào trường hợp sử dụng NLĐ làm thêm quá 200 giờ trong một năm hoặc quá 300 giờ trong một năm trong các trường hợp đặc biệt được Chính phủ quy định, tức là đã vi phạm điều 106.2 của Bộ luật Lao động và có thể bị xử phạt lên đến 100 triệu đồng(3).
Nghiêm trọng nhất là việc tách tiền lương làm thêm giờ để giảm số thuế thu nhập cá nhân cho NLĐ có thể bị xem là hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Hậu quả doanh nghiệp phải gánh chịu có khi lớn hơn nhiều lần so với số tiền doanh nghiệp đã không đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ từ việc áp dụng cách làm này.
Kết hợp cả hai cách trên
Để khắc phục những rủi ro pháp lý và sự phức tạp của công tác tiền lương, kế toán trong cách làm thứ hai, nhiều doanh nghiệp đã linh hoạt áp dụng kết hợp hai cách làm trên đây. Sự mềm dẻo này phần nào giúp doanh nghiệp khắc phục được khả năng NLĐ có thể làm quá số giờ làm thêm tối đa theo quy định, không áp dụng đối với bộ phận NLĐ làm văn phòng, đồng thời xem ra cũng có vẻ hợp lý hơn khi xen kẽ tháng trước NLĐ làm thêm giờ, tháng sau NLĐ được thưởng vì đã có thành tích tốt trong tháng trước. Dù vậy, doanh nghiệp chắc chắn không thể né tránh được một thực tế là phải có hệ thống tính toán tiền lương, nhân sự, kế toán rất tốt với đầy đủ các hồ sơ pháp lý, chứng từ chứng minh tính hợp pháp và hợp lý của cách làm mà doanh nghiệp đang thực hiện.
Tuy nhiên, dù đang làm cách nào, tâm lý chung của doanh nghiệp là “vừa làm, vừa lo”.
(Kinh Tế Sài Gòn Online)
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030, với mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Giảm dần thuỷ điện
Theo đó, quy hoạch phải đẩy nhanh phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối…, từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện.
Ưu tiên phát triển các nguồn thủy điện, nhất là các dự án lợi ích tổng hợp bao gồm chống lũ, cấp nước, sản xuất điện; nghiên cứu đưa nhà máy thuỷ điện tích năng vào vận hành phù hợp với phát triển của hệ thống điện quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống điện.
Tổng công suất các nguồn thủy điện bao gồm cả thủy điện vừa và nhỏ, thủy điện tích năng từ gần 17.000 MW hiện nay lên khoảng 21.600 MW vào năm 2020, khoảng 24.600 MW vào năm 2025 (thủy điện tích năng 1.200MW) và khoảng 27.800 MW vào năm 2030 (thủy điện tích năng 2.400MW). Điện năng sản xuất từ nguồn thủy điện chiếm tỷ trọng khoảng 29,5% vào năm 2020, khoảng 20,5% vào năm 2025 và khoảng 15,5% vào năm 2030.
Đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức 140 MW hiện nay lên khoảng 800 MW vào năm 2020, khoảng 2.000 MW vào năm 2025 và khoảng 6.000 MW vào năm 2030.
Đẩy nhanh phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng mặt trời, bao gồm cả nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất và nguồn phân tán lắp đặt trên mái nhà: Đưa tổng công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kể hiện nay lên khoảng 850 MW vào năm 2020, khoảng 4.000 MW vào năm 2025 và khoảng 12.000 MW vào năm 2030. Điện năng sản xuất từ nguồn điện mặt trời dự kiến chiếm tỷ trọng khoảng 0,5% năm 2020, khoảng 1,6% vào năm 2025 và khoảng 3,3% vào năm 2030.
Phát triển các nhà máy nhiệt điện với tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân bố của các nguồn nhiên liệu. Trong đó, khai thác tối đa nguồn than trong nước cho phát triển các nhà máy nhiệt điện, ưu tiên sử dụng than trong nước cho các nhà máy nhiệt điện khu vực miền Bắc.
Đến năm 2020, tổng công suất khoảng 26.000 MW, sản xuất khoảng 131 tỷ kWh điện, chiếm khoảng 49,3% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 63 triệu tấn than; năm 2025, tổng công suất khoảng 45.800 MW, sản xuất khoảng 220 tỷ kWh điện, chiếm khoảng 55% điện sản xuất, tiêu thụ khoảng 95 triệu tấn than.
Do nguồn than sản xuất trong nước hạn chế, cần xây dựng một số nhà máy nhiệt điện tại các trung tâm điện lực: Duyên Hải, Long Phú, Sông Hậu, Long An... sử dụng nguồn than nhập khẩu.
Phát triển các nhà máy điện hạt nhân nhằm bảo đảm ổn định cung cấp điện trong tương lai khi nguồn năng lượng sơ cấp trong nước bị cạn kiệt. Cụ thể, đưa tổ máy điện hạt nhân đầu tiên vào vận hành năm 2028; đến năm 2030 nguồn điện hạt nhân có công suất 4.600 MW, sản xuất khoảng 32,5 tỷ kWh chiếm 5,7% sản lượng điện sản xuất.
Về định hướng phát triển lưới điện, xây dựng và nâng cấp lưới điện, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của lưới điện truyền tải; đến năm 2020, lưới điện truyền tải đạt tiêu chuẩn độ tin cậy N-1 cho các thiết bị chính và bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
Khắc phục được tình trạng quá tải, nghẽn mạch, chất lượng điện áp thấp của lưới điện truyền tải; bảo đảm cung ứng điện với độ tin cậy được nâng cao cho các trung tâm phụ tải. Lưới điện truyền tải 500 kV được xây dựng để truyền tải điện năng từ các trung tâm điện lực lớn về trung tâm phụ tải, liên kết các hệ thống điện miền và trao đổi điện năng với các nước trong khu vực.
Lưới điện truyền tải 220 kV được đầu tư xây dựng theo cấu trúc mạch vòng kép, các trạm biến áp trong khu vực có mật độ phụ tải cao cần đảm bảo thiết kế theo sơ đồ hợp lý để đảm bảo có thể vận hành linh hoạt. Nghiên cứu xây dựng các trạm biến áp GIS, trạm biến áp 220/22 kV, trạm ngầm, trạm biến áp không người trực tại các trung tâm phụ tải. Ứng dụng công nghệ lưới điện thông minh trong truyền tải điện.
Tổng vốn đầu tư của phát triển nguồn và lưới điện (không tính các nguồn điện được đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT) giai đoạn 2016 - 2030 khoảng 3.206.652 tỷ đồng, tương đương 148 tỷ USD.
Bảo Quyên (Vneconomy)
Bẵng đi một thời gian, từ năm 2012 đến nay, chuyện thu phí trên mặt hàng cà phê xuất khẩu tưởng bị lãng quên, nhưng mới đây đã được nhắc lại và với nhiều ý kiến trái chiều.
Quỹ Phát triển cà phê Việt Nam (Vietnam Coffee Development Fund - VCDF) đang được đề xuất. Mức phí thu đang được đề nghị là 2 đô la Mỹ trên một tấn cà phê nhân xuất khẩu.
Nếu được Chính phủ chấp thuận, việc thu phí cà phê xuất khẩu để phát triển ngành hàng có thể được áp dụng từ năm 2017. Thật ra, đề xuất lập quỹ như thế này không mới vì trước đây đã từng được áp dụng và thực hiện trên hạt cà phê xuất khẩu.
Phụ thu cà phê xuất khẩu: nhớ chuyện cũ
Cuối thế kỷ trước, khi giá cà phê trên thị trường thế giới tăng mạnh, giá cà phê xuất khẩu bấy giờ có lúc lên trên 2.000 đô la/tấn, một hình thức phụ thu cà phê xuất khẩu tính trên tỷ lệ phần trăm của giá xuất khẩu đã được thực hiện. Tuy nhiên, số tiền thu được qua chương trình này bao nhiêu, người đóng góp hầu như không nắm được.
Ở những năm đầu thế kỷ 21, khi giá trị “mỗi cân cà phê chỉ bằng một ký cà pháo”, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu (chủ yếu ở khu vực quốc doanh) thua lỗ nặng do mua hàng trữ lúc giá cao. Lúc bấy giờ, giá xuất khẩu cũng như ở nội địa xuống mạnh, có lúc giá cà phê nguyên liệu trong nước chỉ bán được quanh 4.000 đồng/ki lô gam, giá xuất khẩu thực tế do các doanh nghiệp thu về có hợp đồng chỉ chừng 100-150 đô la Mỹ/tấn. Công bằng mà nói, quỹ phụ thu đã xuất tiền “ứng cứu” nhưng chỉ hỗ trợ một phần cho các doanh nghiệp xuất khẩu báo bị thua lỗ trong kinh doanh do mua cà phê trữ chờ giá tăng. Còn nông dân, nếu truy tận gốc, chính họ là người đóng phụ thu, thì hầu như không được sự quan tâm của cơ quan quản lý quỹ dù giá nguyên liệu cà phê bấy giờ dưới giá thành rất xa.
Năm 2012, khi giá cà phê tăng trên 45.000-50.000 đồng/ki lô gam, đã có lúc Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (Vicofa) đề xuất thu phí xuất khẩu cà phê cũng với mức 2 đô la/tấn cho một quỹ lấy tên Quỹ Bảo hiểm xuất khẩu cà phê. Thế nhưng không biết vì sao quỹ này đến nay chưa được thành lập.
“Tái canh chúng tôi tự làm được, tổ chức sản xuất hợp lý cũng dễ thôi. Cái chúng tôi cần nhất trong giai đoạn hiện nay và những năm tới là kiến thức kinh doanh cà phê với tư cách hàng hóa nguyên liệu, chạm mặt thương trường để tìm cách tăng tính cạnh tranh thì hoàn toàn không có ai giúp”.
Ra đời trong hoàn cảnh ngang trái
Nghe đâu, VCDF đang được đề xuất một cách tích cực. Có người cho rằng số tiền phải thu và cách thu thông qua hải quan cửa khẩu khi cà phê được xuất bán: chuyện quá dễ không phải bàn. Chỉ có hoàn cảnh ngang trái là giá cà phê đang ở mức thấp nhất tính từ bốn năm năm nay, chỉ còn trên dưới 30.000 đồng/ki lô gam, giảm trên 20.000 đồng/ki lô gam. Lại thêm thị trường hàng hóa nguyên liệu nói chung đang trong chu kỳ giảm.
Điều oái oăm nữa là người trồng cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên đang vật lộn với hạn hán, chạy từng đồng để mua nước tưới cây cà phê đang khát trầm trọng. Ở nhiều nơi, nông dân phải đào giếng tìm nguồn nước ngầm sâu hơn trăm mét với chi phí 40-45 triệu đồng một giếng khoan, tương đương gần 1,5 tấn cà phê. “Khi giá cao làm ăn có lời, nộp mấy cũng được. Giá thấp thế này, chi phí sản xuất cao, tính cạnh tranh giảm, kim ngạch năm vừa qua cũng giảm nhiều, nửa đô la vẫn là lớn”, anh Trần Thanh Bạch, người có vườn cà phê tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm đồng, nói.
Suy cho cùng thì chính nhà nông phải trả phí này, nhưng cơ may họ được hưởng từ quỹ phát triển ngành hàng mà họ đóng góp là chuyện xa vời vợi.
Quan trọng là ai quản lý và sử dụng thế nào
Quỹ Phát triển cà phê Việt Nam là tổ chức tài chính ngoài ngân sách nhà nước nên việc quản lý và trách nhiệm quản lý cần được phân định rõ ràng. Chính người chủ quản quỹ phải lập chương trình phát triển để hỗ trợ và thay đổi chương trình theo từng thời kỳ.
Chưa biết ai sẽ được chọn để giữ quỹ này, mỗi năm quản lý một món tiền khá lớn. Nếu như bình quân hàng năm Việt Nam xuất khẩu 1,5 triệu tấn cà phê, mỗi mùa sẽ có 3 triệu đô la Mỹ. Đó là chưa tính cà phê chế biến. Nếu tính cho thật công bằng, các nhà xuất khẩu cà phê chế biến thành phẩm như rang xay, hòa tan và các sản phẩm chế biến khác cũng phải được quy ra thành cà phê nhân để đóng góp.
Nếu giao trách nhiệm quản lý quỹ này cho hiệp hội, thì đến nay, hiệp hội chỉ quy tụ hầu hết là những nhà kinh doanh xuất khẩu. Người nông dân liệu có được hưởng lợi ích từ những chương trình phát triển do quỹ đề xướng và thực hiện?
Sản xuất cà phê Việt Nam không như nhiều nước khác, tuyệt đại bộ phận nông dân làm ra hạt cà phê là người sản xuất nhỏ lẻ, nhỏ tới độ khó tin. Các chủ sở hữu vườn cà phê chỉ từ 0,5-2 héc ta chiếm một tỷ lệ rất lớn, dễ phải đến 70-80%. Trong khi đó hiện nay, đứng trước một thị trường kinh doanh hàng hóa nguyên liệu bị các quỹ đầu cơ tài chính và đại gia công nghiệp thực phẩm đa quốc gia khuynh đảo, nông dân cà phê “đặc thù sản xuất nhỏ lẻ Việt Nam” rất lẻ loi, chỉ biết tự mình bươn chải với sản xuất và thị trường.
Họ không có tiếng nói trong hiệp hội. Một hình thức tổ chức như hội nông dân cà phê hay hợp tác xã sản xuất chuyên ngành cà phê cũng hiếm, để thông qua đó, họ còn có cơ may chạm tay đến các chương trình phát triển của quỹ do chính họ góp tiền. Vì thế, rất cần sự có mặt của đại diện nông dân sản xuất cà phê, kể cả sản xuất nhỏ lẻ, trong ban quản trị quỹ phát triển này.
Một chủ vườn đang tham gia một hợp tác xã tự nguyện mới thành lập tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trần tình:“Tái canh chúng tôi tự làm được, tổ chức sản xuất hợp lý cũng dễ thôi. Cái chúng tôi cần nhất trong giai đoạn hiện nay và những năm tới là kiến thức kinh doanh cà phê với tư cách hàng hóa nguyên liệu, chạm mặt thương trường để tìm cách tăng tính cạnh tranh thì hoàn toàn không có ai giúp”.
Nếu hỏi người nông dân ngày nay cần gì từ một chương trình phát triển cà phê nào đó? Có thể thấy họ cần những phân tích chuyên sâu, rạch ròi về thị trường hơn khuyến khích giữ hàng. Những khuyến nghị giữ hàng có thể có lợi cho doanh nghiệp nhưng một khi thị trường đi ngược với nhận định, chính nông dân là những người khốn đốn nhất.
Như vậy, cần có những chương trình hỗ trợ và lộ trình phát triển rõ ràng, minh bạch với các tiêu chí, điều kiện hưởng lợi ích từ quỹ này. “Chứ những nông dân thấp bé như chúng tôi khi cần tới viên bi thì quỹ lại cho cục kẹo mà cứ phải nộp phí thì... oan lắm!”, ông xã viên thời hiện đại nói.
Nguyễn Quang Bình (TBKTSG Online)
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho rằng, nhiều thị trường chính của gạo Việt Nam như Indonesia, Philippines… đã rút lại kế hoạch nhập khẩu gạo trong thời gian tới khiến gạo Việt lỡ nhiều hợp đồng lớn.
Trong khi đó, yếu tố chính trị những tháng đầu năm 2016 đang ảnh hưởng mạnh tới hoạt động xuất nhập khẩu gạo.
Cụ thể, Cơ quan hậu cần quốc gia Indonesia (Bulog) vừa thông báo ngừng giao dịch mua gạo với 4 nguồn cung cấp có bản ghi nhớ (MOU) với chính phủ nước này là Thái Lan, Pakistan, Campuchia và Việt Nam theo kế hoạch mua gạo trong tháng 2.
Nguyên nhân là vì Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp nước này cho rằng, Indonesia có đủ gạo, không cần nhập khẩu. Vị này cũng cho rằng, thị trường gạo nội địa Indonesia bị biến động thời gian qua là do tác động của đầu cơ tích trữ và tình trạng này sẽ được loại trừ.
Trong khi đó, VFA cho rằng, do những vấn đề liên quan đến hoạt động chính trị, trước mắt Indonesia sẽ chưa nhập khẩu gạo cho đến khi giá thị trường nội địa tăng vọt do thiếu nguồn cung cấp. Dự báo, sau khi Indonesia đánh giá sản lượng sau thu hoạch vào tháng 6 tới, tình hình nhu cầu nhập khẩu của nước này sẽ rõ nét hơn.
Cùng với Indonesia, Cơ quan lương thực quốc gia Philippines (NFA) cũng đã rút lại kế hoạch nhập khẩu 400.000 tấn gạo được thông báo từ đầu năm. Nước này cũng đang chờ xem diễn biến tồn kho và xem xét cho nhập khẩu tư nhân 1 triệu tấn theo Khối lượng tiếp cận tối thiểu (MAV) của WTO, 500.000 tấn phân bổ cho các nước đặc biệt và 500.000 tấn từ các nguồn cung cấp khác.
Theo đánh giá của VFA, nhập khẩu gạo của Philippines cũng bị tác động bởi yếu tố chính trị, một số ý kiến cho rằng việc cho phép nhập khẩu theo cơ chế WTO đã dẫn đến nhập lậu tràn lan, tác hại đến sản xuất trong nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách tự túc lương thực của nước này.
Việc hai thị trường truyền thống lớn Indonesia và Philippines rút kế hoạch nhập khẩu cũng khiến Việt Nam lỡ nhịp trong xuất khẩu gạo quý đầu năm. Tuy nhiên, VFA cho rằng, Việt Nam không chịu tác động nhiều với sự kiện này, ngược lại giá lúa gạo tiếp tục tăng do nhu cầu thực hiện các hợp đồng đã ký và nhu cầu trở lại mạnh từ Trung Quốc, kết hợp với áp lực giảm sản lượng do tác động của khô hạn và xâm nhập mặn ở các tỉnh ven biển.
Thuận Hải (Dân Việt)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "