PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Giá tiêu trong nước hôm nay

Giá tiêu hôm nay được cập nhật lúc 4h30 sáng ngày 13/1/2025 như sau, giá tiêu trong nước quay về mốc khoảng 147.000 đồng/kg sau nhiều phiên giảm liên tiếp. Hiện thị trường tiêu ở các địa phương trọng điểm có giá khoảng 147.100 đồng/kg.

Cụ thể, giá tiêu hôm nay ở tỉnh Gia Lai ghi nhận mức mức ổn định so với phiên giao dịch trước đó, hiện được thu mua ở mức 147.000 đồng/kg; tương tự giá tiêu ở tỉnh Bình Phước cũng được thu mua với giá 147.000 đồng/kg.

Tương tự, thị trường tiêu ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Đắk Lắk sau nhiều phiên giảm cũng đã bắt đầu ổn định và được thu mua ở mức 147.000 đồng/kg.

Riêng thị trường tiêu Đắk Nông được thu mua nhỉnh hơn so với các địa phương khác, hiện giá tiêu ở địa phương này ở mức 147.500 đồng/kg.

Các chuyên gia đánh giá, hiện hạt tiêu tồn kho trong dân đang thấp, vụ mùa năm tới đến muộn và quyền tự quyết bán hàng của nông dân cao hơn (thu nhập tốt giúp họ có thể không bán ngay mà trữ lại chờ giá lên). Những lý do trên cộng với kỳ vọng Trung Quốc mua mạnh trở lại là những yếu tố có thể giúp giá tiêu tăng cao trong vụ thu hoạch 2025.

Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương (VITIC), sau Việt Nam, Brazil là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu đen lớn thứ hai thế giới, chiếm 17 – 18% nguồn cung toàn cầu. Tuy nhiên, xuất khẩu hạt tiêu của Brazil vụ mùa 2024 giảm mạnh, đánh dấu mức giảm trong 3 năm liên tiếp, do sản lượng thấp trước tác động của El Nino. Trong cả năm 2024, xuất khẩu tiêu của Brazil chỉ đạt 61.665 tấn, giảm mạnh 23,6% (tương đương 19.037 tấn) so với năm 2023.

Hiện, thị trường hạt tiêu hiện tại khá trầm lắng, giao dịch thấp. Trong khi đó, nông dân, đại lý và nhà xuất khẩu đang hạn chế bán ra và giữ hàng, hy vọng giá sẽ tăng mạnh sau Tết Nguyên Đán.

Theo báo cáo tháng 12/2024 của Công ty Bioingredia Natural (có trụ sở tại Ấn Độ), nguồn cung tại hạt tiêu Việt Nam trong năm 2024 bị ảnh hưởng bởi vụ mùa nhỏ hơn và diện tích canh tác giảm do thời tiết bất lợi. Sản lượng vụ mùa của Việt Nam ước tính từ 160.000 tấn đến 175.000 tấn. Vụ thu hoạch sắp tới có thể bị trì hoãn khoảng 2 tháng do điều kiện thời tiết khó lường.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, bước sang năm mới nhu cầu bắt đầu tăng lên từ các thị trường lớn, bao gồm Mỹ, EU, Trung Đông và Trung Quốc, dẫn đến giá tăng 1,53% vào tháng trước. Những người mua hàng đang dự đoán giá sẽ giảm trong quý 1 năm 2025 để đưa ra quyết định mua hàng.

Tại Việt Nam, sau thời gian tăng giá, những ngày qua thị trường tiêu trong nước đã đảo chiều, giảm mạnh, đặc biệt tại Tây Nguyên, với Đắk Lắk giảm đến 6.000 đồng/kg; hiện giá tiêu hiện tại quanh mức 147.000 đồng/kg.

Giá tiêu thế giới hôm nay

Cập nhật giá tiêu thế giới từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) lúc 4h30 ngày 13/1/2025 như sau: thị trường tiêu thế giới đã ổn định trở lại sau nhiều phiên - tăng giảm trước đó.

Cụ thể, IPC niêm yết giá tiêu đen Lampung của Indonesia đang ở mức 6.841 USD/tấn so với phiên giao dịch trước, tương tự giá tiêu trắng Muntok được thu mua với giá 8.953 USD/tấn.

Thị trường tiêu Malaysia sau nhiều phiên tăng mạnh đã ổn định và đang neo ở mức cao, hiện giá tiêu đen ASTA của Malaysia được thu mua ở mức giá 8.700 USD/tấn và giá tiêu trắng ASTA ở mức 11.100 USD/tấn.

Tương tự, thị trường tiêu Brazil tiếp tục neo ở mức cao, hiện giá đang ở mức 6.350 USD/tấn.

Thị trường tiêu Việt Nam xuất khẩu ổn định và tăng nhẹ. Cụ thể, giá tiêu đen Việt Nam xuất khẩu hiện đạt mức giá 6.350 USD/tấn với loại 500 g/l và loại 550 g/l đạt mức giá 6.650 USD/tấn; giá tiêu trắng đang ở mức giá 9.550 USD/tấn.

Tại Malaysia, hạt tiêu tiếp tục tăng trưởng nhờ nhu cầu quốc tế mạnh mẽ và sự hỗ trợ từ chính phủ. Xuất khẩu tiêu của Malaysia trong 10 tháng đầu năm đạt 4.787 tấn, trị giá gần 30 triệu USD, tăng 30,3% về giá trị.

Ở Brazil, xuất khẩu tiêu giảm mạnh 41% trong tháng 12, chỉ đạt 4.374 tấn. Việt Nam nhập khẩu 3.750 tấn tiêu trong tháng 12, giảm 14,4% so với tháng trước, chủ yếu từ Indonesia (81,9%).

Nguồn: Báo Công Thương

Mặc dù Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới trong xuất khẩu gạo, song hạt gạo Việt vẫn chưa thực sự có thương hiệu mạnh trên thế giới. Bởi vậy, bên cạnh năng suất, chất lượng thì việc xây dựng thương hiệu là một trong những yếu tố quyết định để hạt gạo Việt khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Tại Hội thảo Xây dựng thương hiệu quốc gia cho gạo Việt tổ chức chiều 10/12, các chuyên gia đều khẳng định tiềm năng của ngành gạo Việt Nam và cho rằng, xây dựng thương hiệu gạo thành công chính là xây dựng được lòng tin của người tiêu dùng trong nước và thế giới.

Ông Lê Thanh Hòa - phó cục trưởng Cục Chất lượng, chế biến và phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết vai trò của thương hiệu trong phát triển ngành gạo là yếu tố gia tăng giá trị sản phẩm và tính cạnh tranh, gắn kết mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng.

Ông cũng nêu một số thực trạng phát triển thương hiệu gạo tại Việt Nam hiện nay đã mang lại kết quả. Cụ thể là một số doanh nghiệp gạo Việt Nam đã thành công trong việc xây dựng thương hiệu và tạo dựng chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Điển hình là các thương hiệu như gạo ST25 của ông Hồ Quang Cua. Trong đó, gạo ST25 đã mang lại niềm tự hào cho ngành nông nghiệp Việt Nam khi giành danh hiệu "Gạo ngon nhất thế giới".

Thành công của ST25 là minh chứng cho tiềm năng lớn của ngành gạo Việt Nam, tạo tiền đề để ngành gạo Việt Nam nâng tầm thương hiệu trên thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, việc phát triển thương hiệu gạo Việt còn một số khó khăn, như xây dựng lòng tin về chất lượng, thiếu hỗ trợ pháp lý trong việc bảo hộ thương hiệu quốc tế và chưa chú trọng thị trường nội địa.

Do vậy, Phó cục trưởng Cục Chất lượng cho rằng, bản thân doanh nghiệp muốn xây dựng thương hiệu gạo của mình hay sử dụng nhãn hiệu Gạo Việt Nam phải tuân thủ quy định trồng trọt tốt, quy trình trong quá trình chế biến, giám sát tất cả mối nguy mất an toàn thực phẩm đối với hạt gạo thì lúc đó mới đảm bảo được chất lượng hạt gạo tốt nhất để có thương hiệu bền lâu.

"Cần nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng phát triển thương hiệu gạo và chỉ dẫn địa lý, đa dạng hóa sản phẩm gạo xuất khẩu. Phát triển sản phẩm gạo giá trị gia tăng, đổi mới công nghệ trong sản xuất gạo và đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế, khẳng định vị thế thương hiệu", ông Hòa nêu 6 giải pháp để khắc phục và xây dựng thương hiệu gao Việt.

Đồng quan điểm, anh hùng lao động Hồ Quang Cua nhìn nhận, theo kinh nghiệm từ xây dựng thương hiệu gạo nổi tiếng của thế giới như ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia thì "mình chưa làm được (thương hiệu) và có làm cũng chưa tới đâu".

"Nhìn ra những quốc gia xây dựng thương hiệu thành công nhất thế giới, Ấn Độ tập trung cho giống Basmati, Thái Lan có Hom Mali, tức là họ tập trung cho một giống. Sau khi tập trung cho một giống thì luôn luôn có tiêu chuẩn độ thuần. Trong 10 năm tới, Việt Nam tiến tới đâu cũng phải tuân theo luật chơi của quốc tế, không thể làm khác", ông trình bày quan điểm.

Theo đánh giá của Kỹ sư Hồ Quang Cua về tiêu chuẩn của gạo ngon, thì độ thơm là tinh túy của gạo, các nước đều chọn độ thơm làm thương hiệu. Bước kế tiếp luôn luôn là độ thuần, còn tiêu chí về gạo trắng, độ ẩm là bình thường.

"Chúng tôi rất mừng là năm nay, khi chúng ta bước vào thị trường gạo cao cấp của thế giới, hành vi doanh nghiệp và nông dân đã thay đổi nhiều. Doanh nghiệp và người dân từng bước yêu cầu qua yêu cầu lại, hỗ trợ qua hỗ trợ lại để cùng nâng cấp. Đó là yếu tố cho chúng ta tiến bước lên. Có năm Việt Nam có 600 container gạo xuất khẩu do Mỹ trả về, có nghĩa chúng ta sử dụng hóa chất. Gạo thơm Việt Nam là giống lúa thơm cải tiến, sử dụng nhiều phân bón và chất hóa học nên yếu tố an toàn cần được đặt ra", ông Cua góp ý.

Tuy nhiên, theo nhìn nhận của ông Phạm Thái Bình, chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An thì lại khác bởi ông cho rằng Việt Nam nói và làm thương hiệu gạo từ lâu. Hiện tại nếu nói chưa có, chưa thành công thì không hẳn đúng.

Ông Bình đồng thời dẫn chứng Philippines mỗi năm nhập khẩu của Việt Nam vài chục ngàn tấn gạo. "Cuối năm 2023 có sự kiện Ấn Độ cấm xuất khẩu gạo, làm giá gạo lên, nhưng giờ Ấn Độ xả lệnh cấm và bán giá rất rẻ, nhưng vì sao Philippines không mua của Ấn Độ mà mua của Việt Nam? Đó là vì họ có lòng tin vào gạo Việt Nam", ông nhận định.

Vì vậy, theo ông Bình, xây dựng thương hiệu gạo thành công là xây dựng được lòng tin của người tiêu dùng trong nước và thế giới.

Được biết, thương hiệu gạo Việt Nam được Chính phủ chỉ đạo xây dựng từ năm 2017 và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hoàn thiện xây dựng chứng nhận nhãn hiệu Gạo Việt Nam (VietNam Rice), đăng ký bảo hộ theo thỏa ước Madrid, cũng như đăng ký bảo hộ tại 20 quốc gia trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Philippines...

Tuy nhiên, việc ban hành quy chế sử dụng nhãn hiệu gạo Việt Nam đang có những vướng mắc liên quan đến việc đăng ký các thủ tục mang tính chất pháp lý.

Nguồn: Hồng Hương - vnbusiness

Giá cà phê hôm nay (11/12) trong khoảng 124.200 - 124.700 đồng/kg, tăng 200-700 đồng/kg tùy từng vùng.

Dự kiến giá cà phê nội địa đến lúc sẽ không còn bị cuốn theo diễn biến giá trên các sàn kỳ hạn quốc tế nữa mà theo thị trường hàng hóa thực tế.

Tại huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc (Lâm Đồng), cà phê được thu mua với mức 124.200 đồng/kg.

Tại huyện Cư M'gar (Đắk Lắk), giá cà phê ở mức 124.700 đồng/kg. Tại huyện Ea H'leo, Buôn Hồ (Đắk Lắk), cà phê được thu mua cùng mức 124.600 đồng/kg.

Tương tự tại tỉnh Đắk Nông, cà phê được thu mua ở mức 124.700 đồng/kg tại Gia Nghĩa và 124.600 đồng/kg ở Đắk R'lấp.

Tại tỉnh Gia Lai, giá cà phê ở mức 124.500 đồng/kg (Chư Prông), ở Pleiku và Ia Grai cùng giá 124.400 đồng/kg.

Còn cà phê hôm nay tại tỉnh Kon Tum được thu mua với mức 124.500 đồng/kg.

Mặc dù đang vào mùa thu hoạch cao điểm, nhưng giá cà phê nội địa tại Việt Nam vẫn tăng là do nhu cầu lớn và nguồn cung hạn chế, nhu cầu ngày một tăng cao trên thế giới. Một số quốc gia xuất khẩu cà phê lớn như Việt Nam, Brazil… bị ảnh hưởng bởi hạn hán. Trong 2 tháng kể từ vụ thu hoạch mới bắt đầu, hiện nông dân ở Tây Nguyên mới thu hoạch được khoảng hơn 30% sản lượng cà phê.

Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, Việt Nam xuất khẩu cà phê đến hơn 80 quốc gia; trong đó có 10 thị trường đạt kim ngạch hơn 100 triệu USD. Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam trong niên vụ 2023-2024, với trị giá 2 tỷ USD, tăng 41% so với niên vụ trước, chiếm 38% về lượng và 37% về kim ngạch.

Trên thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại sàn London giao tháng 1/2025 tăng 22 USD/tấn, ở mức 5.268 USD/tấn, giao tháng 3/2025 tăng 32 USD/tấn, ở mức 5.232 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 3/2025 tăng 4,05 cent/lb, ở mức 334,15 cent/lb, giao tháng 5/2025 cent/lb, tăng 3,9 cent/lb, ở mức 331,55 cent/lb.

Giá cà phê trên sàn London tiếp tục giữ được đà tăng đã kích thích giá cà phê Arabica phục hồi trở lại. Robusta có một phiên giao dịch biến động, khi tăng mạnh ngay thời điểm đầu giao dịch và giảm dần, tuy nhiên vẫn đóng cửa ở mức dương.

Trong khi đó, thông tin từ Volcafe cho thấy sản lượng Arabica của Brazil năm 2025/2026 chỉ còn 34,4 triệu bao, giảm mạnh so với con số đưa ra trước đó đã góp phần làm tăng giá mặt hàng cà phê này.

Theo giới chuyên gia, giá cà phê thế giới có biến động bất thường của giá cà phê trên các sàn giao dịch cà phê kỳ hạn quốc tế do quỹ đầu cơ đẩy giá, không phản ánh đúng thị trường cà phê. Trong khi giá cà phê Việt Nam lại bị cuốn theo giá trên các sàn kỳ hạn này.

Do thị trường nhiều yếu tố rủi ro nên các nhà xuất khẩu cà phê không bán trên sàn giao dịch hàng hóa nhiều. Với mức tăng giảm giá mua bán cà phê trên sàn kỳ hạn quá lớn 300 - 400 USD/tấn, không có doanh nghiệp nào dám giao dịch. Điều đó dẫn đến việc không có đơn hàng chào bán cà phê, nguồn cung cà phê thiếu hàng, thị trường hiểu lầm thiếu hàng, tạo cơ hội cho đầu cơ thao túng sàn, đẩy giá lên.

Dự kiến giá cà phê sẽ có sự điều chỉnh lại, chững lại chứ không tăng nữa. Giá cà phê nội địa đến lúc sẽ không còn bị cuốn theo diễn biến giá trên các sàn kỳ hạn quốc tế nữa mà theo thị trường hàng hóa thực tế.

Nguồn: vnbussiness

Bắt đầu tuần này, chúng ta nhận định thị trường kỳ hạn dựa trên tháng 03/2025 cho cả 2 sàn.

Sàn robusta London 1&3/25                            

5268+22 (5556/ 5220)

5232+32 (5510/ 5181)

Sàn arabica New York 12/24&3/25                              

334.15+4.05 (348.35/329.15)

331.55+3.90 (345.70/326.70)

Thông số ảnh hưởng giá cà phê

-Giá cách biệt 2 sàn dựa trên tháng tháng 3/25: 96,83 vs 93,23 cts/lb. Có lúc giá cách biệt này đạt đến trên 180 cts/lb, nhờ vậy mà các nhà rang xay chuyển sang tiêu thụ nhiều robusta hơn do arabica quá đắt.

-Chỉ số DXY: 105,83 vs 105,95 điểm.

-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl:  6,07 vs 6,08. Mức thấp kỷ lục 6,09 Brl lập 06/12/2024!

-Tỷ giá VND/USD VCB mua 25.130 VND / bán 25.463 VND so với mua 25.175 / bán 25.509 VND mới đây.

Giá trong nước (dự kiến)

-Dự kiến giá cà phê nguyên liệu tại Tây Nguyên hôm nay 118-122 triệu đồng/tấn so với hôm trước 118-122 triệu.

Sự kiện và dữ liệu kinh tế & chính sách có thể tác động lên giá cà phê:

 

-Thị trường tài chính trong đó có các sàn kỳ hạn cà phê bước hai tuần quan trọng. Các ngân hàng trung ương đang kêu gọi các cú hích trên thị trường và đây là cơ hội cuối cùng trong năm để họ hạ lãi suất. Và hy vọng sẽ gây bất ngờ tích cực. ECB dự kiến sẽ giảm lãi suất cơ bản chỉ 0,25% vào thứ Năm tuần này, từ 3,40% xuống 3,15%. Còn Fed sẽ được phán quyết ngày 18/12.

Để thúc đẩy các quyết định của họ, một loạt chỉ số mới về lạm phát sẽ được công bố. Như mọi khi, thông tin được mong đợi nhất sẽ là CPI của Mỹ vào chiều nay Thứ Tư. Các dữ liệu khác trong tuần chỉ mang tính thứ yếu hơn, tuy nhiên thị trường sẽ tập trung đến những tuyên bố của Donald Trump về thương mại thế giới.

Lời bàn về thị trường cà phê (tháng 1/25 London và 3/25 New York)

Diễn biến: Ngày khóa sổ vị thế kinh doanh, sàn London mở cửa phóng lên dương ngay 105 USD tại 5305 và quyết lấp khoảng trống tại 5309-5362. Chỉ cần vài cú nhảy, London đã lấp xong và chạy tọt lên 5510, cũng là đỉnh trong ngày nhưng sau đó dịu dần có khi chỉnh âm nhẹ cuối phiên để đóng cửa dương 32 $/tấn.

Sàn New York không chỉ giúp London mà còn tự mình sinh chuyện, tăng đến 348.35+18.25) và cương cứng trên khu vực +11 cts/lb một thời gian dài đến cuối phiên xìu xuống chỉ còn dương 4.05 cts/lb đạt 334.15 cts/lb.

-Volcafe tung tin sản lượng arabica Brazil 2025/26 chỉ còn 34,4 triệu bao, giảm 11 triệu bao. Thật ra năm ngoái cũng Volcafe báo Brazil mất sản lượng mà có mất đâu, ngược lại được nữa chứ. Bạn đọc hãy nên sáng suốt khi nhận định với những thông tin về sản lượng của một số công ty mang tính chất đầu cơ và có hại cho cách kinh doanh của mình. Rất có thể thị trường dựa vào tin này để kích đầu cơ giá lên nhưng khi thấy khó tin, thị trường đã dịu xuống trở lại một cách bất ngờ.

-Cecafe – Xuất khẩu cà phê Brazil tháng 11/2024: Hiệp hội Xuất khẩu cà phê Brazil báo 1t khẩu trong tháng đạt 4,66 triệu bao, tăng 5,6% so với cùng kỳ 2023 là 4,41 triệu bao.

-Trưởng phòng Chiến lược Hàng hóa tại Ngân hàng Saxo Ole Hansen viết trong bài phân tích gần đây về “Một mùa trồng trọt đầy thử thách ở Việt Nam, quốc gia sản xuất cà phê Robusta hàng đầu, hiện đã chuyển sang Brazil, nơi thời tiết bất lợi đã gây ra những lo ngại nghiêm trọng về vụ mùa cà phê Arabica năm 2025”.

-Giá cà phê người tiêu thụ phải trả ở Nam Phi đã tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái kể từ đầu năm, nhà kinh tế nông nghiệp Paul Makube của FNB nói với Mail & Guardian.

“Tăng nhiều quá! Mức tăng giá đó đã được duy trì kể từ đầu năm và đến lúc này vẫn chưa dừng do tình hình nguồn cung thắt chặt trên thế giới.

Nestlé dự tính phải nâng giá cà phê bán lẻ thêm từ 30% đến 40% trong năm tới, giám đốc điều hành kinh doanh cà phê và đồ uống khu vực Đông và Nam Phi của công ty, Carl Khoury cho biết, cho rằng sự tăng vọt của năm nay là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm cả điều kiện khí hậu ở Brazil và Việt Nam cũng như sự gián đoạn của chuỗi cung ứng và chi phí hậu cần tăng cao.

Khoury cho biết giá tăng trong năm tới có thể do năng suất cây trồng thấp hơn do hạn hán và lượng mưa không đủ ở các vùng sản xuất cà phê trọng điểm và “đặt ra những thách thức về nguồn cung và giá cả trên thị trường địa phương”.

Makube cho biết điều duy nhất có thể khiến giá giảm là nhu cầu tiêu dùng giảm.

Ông nói: “Quý vị có thể thấy một vài lần điều chỉnh về giá, nhưng cho đến lúc đó, giá sẽ vẫn tăng cao do vấn đề hạn chế nguồn cung”.

Ông nói thêm rằng tình trạng thiếu cà phê không phải là vấn đề đáng lo ngại trong trung hạn nhưng sẽ xuất hiện thách thức nếu thời tiết khô hạn kéo dài.

==

NGUYỄN QUANG BÌNH

Page 14 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]