PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Bối cảnh thị trường kỳ hạn cà phê trước giờ mở cửa

Báo cáo việc làm phi nông nghiệp chính thức tại Mỹ cho tháng 7/2024 nói rằng số việc làm được tạo ra trong tháng trước ít hơn dự kiến, chỉ 114.000 lượt, là mức thấp nhất kể từ tháng 1/2021 và giảm so với  179.000 của tháng 6. Thấp rất nhiều so với kỳ vọng là 177.000 lượt.

Tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng lên 4,3%, vượt từ mức 4,1% của tháng 6/24.

Các nhà phân tích tại Capital Economics cho biết: “Việc bảng lương giảm mạnh trong tháng 7 và tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh hơn khiến việc cắt giảm lãi suất vào tháng 9 là điều không thể tránh khỏi”, “và sẽ làm tăng suy đoán rằng Fed sẽ bắt đầu chu kỳ nới lỏng của mình bằng việc cắt giảm 0,50%.” Nhiều người còn nghĩ đến chuyện không chừng Fed có hội nghị bất thường để quyue61t hạ lãi suất luôn chứ không cần phải đợi đến họp tháng 9/2024.

Dữ liệu việc làm yếu khiến nhiều người ở Wall Street đã bắn tiếng kêu gọi Fed cắt giảm lãi suất 0,50% tại cuộc họp tháng 9/2024.

Thị trường cà phê (bình luận trên tháng 9/2024) –

Sau 1 tuần giá London mất 100 USD. Chuyện tăng giảm là bình thường, nhưng rõ ràng giá arabica nhiều khi tăng nhưng robusta không nhúc nhích. Chỉ đợi khi giá trị USD giảm mạnh trê 1% và New York lên 230.50 thì London mới rục rịch nhưng vẫn không bung, cứ “xìu xìu ểnh ểnh”. Lý do thì quý bạn đã được giải thích phần nào ở các bài viết cuối tuần trước.

London robusta tháng 9/24: 4227        +2        (4245/4194)

Sự chờ đợi giá tăng trên sàn London vào ngày cuối tuần làm thất vọng nhiều bà con. Các dữ liệu kinh tế và ngành hàng đều ủng hộ giá robusta tăng nhưng sàn không cho lên.

Tuy nhiên cũng cần thấy rằng về chạm đáy 4158 USD tuần trước, giá London đã ngoi lên 4245 rồi đóng cửa 4227. Mức kháng cự 4230/4250 cho phiên đầu tuần là quan trọng.

-Hướng tăng: 4250/4282/4340/4372                                    

-Hướng giảm: 4201/4163/4101/4044                       

 

New York arabica tháng 9/24: 230.5    +3.25   (231.75/226.45)

Thị trường đang trông chờ cái phao từ New York, đã lên được để đóng cửa 230.50 thì tình hình tích cực về mặt chính sách lãi suất cũng có thể đưa sàn này lên 237.8.0.

-Hướng tăng: 232.70/234.90/238           

-Hướng giảm: 227.35/224.25/222.05

=

NGUYỄN QUANG BÌNH

Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước đồng loạt tăng.

Tại thị trường trong nước

Ghi nhận mới nhất, giá tiêu hôm nay tăng 500 - 1.000 đồng/kg. 

Cụ thể, sau khi tăng 500 đồng/kg, thương lái tại Đắk Lắk đang thu mua hồ tiêu với giá 147.000 đồng/kg. 

Đây cũng là mức giá được ghi nhận tại Gia Lai, Đắk Nông, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai sau khi tăng 1.000 đồng/kg. 

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: VNĐ/kg)

Đắk Lắk

147.000

+500

Gia Lai

147.000

+1.000

Đắk Nông

147.000

+1.000

Bà Rịa - Vũng Tàu

147.000

+1.000

Bình Phước

147.000

+1.000

Đồng Nai

147.000

+1.000

Trên thị trường thế giới thế giới

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) vào ngày 4/8 (theo giờ địa phương), giá giao dịch tiêu đen Lampung (Indonesia), giá thu mua tiêu đen Brazil ASTA 570 và giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA duy trì ổn định so với ngày 2/8.

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 2/8

Ngày 4/8

% thay đổi

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

7.176

7.176

0

Tiêu đen Brazil ASTA 570

6.850

6.850

0

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

7.500

7.500

0

Cùng thời điểm khảo sát, giá thu mua tiêu trắng Muntok và giá tiêu trắng Malaysia ASTA không có thay đổi mới. 

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 2/8

Ngày 4/8

% thay đổi

Tiêu trắng Muntok

8.793

8.793

0

Tiêu trắng Malaysia ASTA

8.800

8.800

0

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong quý II, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đạt 84.609 tấn, trị giá 394 triệu USD, tăng mạnh 49% về lượng và 67,1% về trị giá so với quý I, đồng thời tăng 10,5% về lượng và 57,5% về trị giá so với quý II năm ngoái. 

Như vậy, lũy kế trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu hồ tiêu đạt 141.392 tấn với trị giá thu về 629,9 triệu USD, so với cùng kỳ năm ngoái giảm 7,4% về lượng nhưng tăng 30% về trị giá nhờ giá tăng cao.

Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong quý II đạt 4.657 USD/tấn, tăng 12,1% so với quý I và tăng 42,5% so với quý II/2023. Tính chung 6 tháng đầu năm tăng 40,7% so với cùng kỳ lên mức 4.455 USD/tấn. Tính riêng trong tháng 6 giá tiêu xuất khẩu đạt 5.058 USD/tấn, mức cao nhất ghi nhận được trong vòng 7 năm qua (kể từ tháng 6/2017).

Về chủng loại, tiêu đen nguyên hạt chiếm đến 74,6% tổng khối lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm, tiếp đến là tiêu đen xay chiếm 12,9% tỷ trọng; tiêu trắng nguyên hạt chiếm 8,1%; còn lại 3,6% là tiêu trắng xay và tỷ trọng nhỏ 0,8% là tiêu ngâm giấm, mộc, đầu đinh, xanh, hồng…

Nguồn: Vietnambiz

Giá tiêu trong nước hôm nay

Giá tiêu hôm nay ngày 29/7/2024, tại khu vực Đông Nam Bộ, duy trì ổn định so với ngày hôm qua, giao dịch quanh mốc 149.000 -150.000 đồng/kg, giá mua cao nhất tại tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk là 150.000 đồng/kg.

Cụ thể, giá tiêu Đắk Lắkđược thu mua ở mức 150.000 đồng/kg giữ nguyên gia so với ngày hôm qua. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) thu mua ở mức 149.000 đồng/kg giữ nguyên giá so với ngày hôm qua. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay ghi nhận giữ ở mức 150.000 đồng/kg đi ngang giá so với ngày hôm qua.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay cũng giữ nguyên giá so với ngày hôm qua. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu hiện ở mức 150.000 đồng/kg, đi ngang giá so với ngày hôm qua; tại Bình Phước giá tiêu hôm nay giữ ở mức 149.000 đồng/kg ổn định so với ngày hôm qua.

Như vậy, giá tiêu trong ngày hôm nay chững lại tại một số địa phương ở vùng trồng trọng điểm, ghi nhận mức giá cao nhất 150.000 đồng, dao động ở vùng giá 149.000 – 150.000 đồng/kg.

Ở trong nước, giá tiêu cũng chứng kiến mức tăng kỷ lục từ 92.000 - 94.000 đồng/kg từ đầu tháng 4 lên mức đỉnh 180.000 đồng/kg vào ngày 11/6, tương ứng tăng 90% chỉ trong hơn hai tháng và là mức cao nhất trong 8 năm qua. Sau đó giá tiêu điều chỉnh giảm lại về ngưỡng 153.000 – 157.000 đồng/kg vào cuối tháng 6.

Như vậy, tính đến cuối quý II, giá tiêu trong nước đã tăng khoảng 93% so với đầu năm và gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính đến cuối tháng 6, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 140.000 tấn, chiếm khoảng 83% trong tổng sản lượng dự kiến vào khoảng 170.000 tấn trong năm nay. Như vậy, vẫn còn 7-8 tháng nữa mới đến vụ thu hoạch mới (dự kiến sau Tết nguyên đán từ tháng 2/2025) trong khi lượng hàng còn trong dân và đại lý, doanh nghiệp không còn nhiều như Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) nhận định trước đây.

Giá tiêu thế giới hôm nay

Cập nhật giá tiêu thế giới từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), thời điểm này, giá tiêu đen Inndonesia ổn định so với ngày hôm qua; giá tiêu Brazil đi ngang, trong khi đó, tiêu Malaysia không thay đổi. Giá tiêu Việt Nam niêm yết hôm nay ổn định.

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, IPC niêm yết giá tiêu đen Lampung của Indonesia đạt 7.150 USD/tấn, giá tiêu trắng Muntok đạt 9.103 USD/tấn.

Giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil được giữ ổn định ở mức 6.950USD/tấn. Giá tiêu đen ASTA của Malaysia cũng được giữ ổn định ở mức 7.500 USD/tấn; giá tiêu trắng ASTA của nước này đạt 8.800 USD/tấn.

Giá tiêu đen Việt Nam đồng loạt giữ giá ở mốc cao giao dịch ở 6.000 USD/tấn với loại 500 g/l; loại 550 g/l mức 6.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 8.800 USD/tấn .

Thị trường hồ tiêu trong nước và thế giới đã chứng kiến sự biến động chưa từng có trong trong quý II năm nay. Một số chuyên gia nhận định dấu hiệu thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu sẽ được thị trường tiếp tục ghi nhận và phản ánh trong thời gian tới cho đến khi giáp hạt.

Sản lượng giảm từ Brazil và Việt Nam, hai quốc gia sản xuất hồ tiêu hàng đầu thế giới đã đẩy giá tiêu quốc tế liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm nay. Đặc biệt, thị trường đã chứng kiến sự biến động chưa từng có trong trong quý II năm nay.

Theo đó, giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia và Brazil đã tăng lần lượt là 93,1% và 2,3 lần chỉ trong thời gian ngắn từ đầu quý II đến giữa tháng 6, còn Việt Nam cũng ghi nhận mức tăng 70 – 83% trong thời gian kể trên.

Những tuần sau đó thị trường điều chỉnh giảm và có phần ổn định trở lại nhưng vẫn dao động ở mức cao nhất trong khoảng 8 năm trở lại đây.

Giá tiêu trong nước ngày 29/7­­/2024

Giá tiêu hôm nay 29/7/2024:

*Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm, từng địa phương.
Nguồn: Báo Công Thương

Giá tiêu hôm nay ngày 22/7/2024, tại khu vực Đông Nam Bộ, tăng 1.000 -1.500 đồng/kg ở một số địa phương, giao dịch quanh mốc 146.000 -147.500 đồng/kg, giá mua cao nhất tại các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông là 147.500 đồng/kg.

Cụ thể, giá tiêu Đắk Lắk được thu mua ở mức 147.500 đồng/kg tăng 1.500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) thu mua ở mức 146.000 đồng/kg. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay ghi nhận lên mức 147.500 đồng/kg.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay tăng 1.000 -1.500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu hiện vẫn ở mức 146.000 đồng/kg; tại Bình Phước giá tiêu hôm nay giảm xuống ở mức 146.500 đồng/kg.

Như vậy, giá tiêu trong ngày hôm nay ghi nhận tăng nhẹ tại một vài đia phương, ghi nhận mức giá cao nhất 147.500 đồng, dao động ở vùng giá 146.000 – 147.500 đồng/kg.

Hiện tại, giá hạt tiêu đang trong tình trạng “rung lắc” tức là lúc lên, lúc xuống, nhưng nhìn chung là trong xu thế sẽ tiếp tục tăng lên. Theo ông Hoàng Phước Bính - Phó Chủ tịch Hiệp hội Hạt tiêu Chư Sê (Gia Lai), không chỉ năm nay, giá hạt tiêu sẽ còn tiếp tục ở mức cao trong nhiều năm tới, bởi mỗi chu kỳ tăng giá thường kéo dài trong khoảng 10 năm.

Giá tiêu thế giới hôm nay

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 7.191 USD/tấn, giảm 0,25%; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 7.125 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA mức 7.500 USD/tấn.

Giá tiêu trắng Muntok 9.157 USD/tấn giảm 0,24%; giá tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 8.800 USD/tấn.

Giá tiêu đen Việt Nam đồng loạt giữ giá ở mốc cao giao dịch ở 6.000 USD/tấn với loại 500 g/l; loại 550 g/l mức 6.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 8.800 USD/tấn .Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) giữ nguyên giá tiêu tại Brazil, Việt Nam. Giá tiêu đen Indonesia giảm so với ngày hôm qua.

Tính đến hết năm 2023, diện tích hồ tiêu toàn tỉnh Ðắk Nông đạt 33.789 ha, sản lượng đạt 70.685 tấn, tăng 28.458 tấn so với 2018. Hiện Ðắk Nông đứng thứ nhất ở khu vực Tây Nguyên và cả nước về diện tích trồng hồ tiêu, sản lượng đứng thứ hai cả nước (sau tỉnh Ðắk Lắk).

Đắk Nông sẽ duy trì diện tích trồng hồ tiêu đến năm 2025 đạt khoảng 34 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 52 nghìn tấn và năm 2030 diện tích đạt khoảng 33,6 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 60 nghìn tấn; hình thành và phát triển 4 vùng sản xuất hồ tiêu ứng dụng công nghệ cao, vùng sản xuất tập trung với diện tích 3.049 ha tại các vùng trọng điểm sản xuất hồ tiêu của tỉnh.

Dù giá tiêu đang ở mức cao nhưng các địa phương, và ngay cả người dân hiện cũng rất thận trọng trong việc mở rộng diện tích trồng hồ tiêu. Nguyên nhân một phần do giá trị của hồ tiêu không còn cao bằng những loại cây trồng khác. Từ lâu hồ tiêu không còn được coi là "vàng đen".

Tại Đông Nam Bộ, Đồng Nai là một trong những tỉnh trồng hồ tiêu lớn với khoảng 11.000 ha. Năm 2018, diện tích hồ tiêu của tỉnh Đồng Nai đạt 19.000 ha. Nhiều năm giá tiêu ở mức thấp khiến tỉnh này mất đi 8.000 ha trồng tiêu để chuyển sang những loại cây trồng có giá trị cao hơn. Năm nay, mặc dù mức giá tăng gấp đôi nhưng người dân vẫn dè dặt mở rộng diện tích.

Định hướng chung của ngành là sản xuất hồ tiêu sạch theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Xuất khẩu hồ tiêu của Brazil đạt mức cao kỷ lục 92.065 tấn vào năm 2021, nhưng sau đó giảm xuống còn 86.359 tấn năm 2022 và 80.725 tấn năm 2023.

Sản lượng giảm từ Brazil và Việt Nam, hai quốc gia sản xuất hồ tiêu hàng đầu thế giới đã đẩy giá tiêu thế giới liên tục tăng cao trong thời gian qua.

Một số chuyên gia nhận định dấu hiệu thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu sẽ được thị trường tiếp tục ghi nhận và phản ánh trong thời gian tới cho đến khi giáp hạt.

Trong khi đó, chi phí vận chuyển hàng hóa tăng nhanh và tắc nghẽn cảng ở châu Á cũng tác động đến giá cả ở các thị trường nhập khẩu, và có thể gây ra sự chậm trễ vận chuyển. Điều này khiến giá tăng trong trung và dài hạn.

Giá tiêu trong nước ngày 22/7­­/2024

Tỉnh, thành

ĐVT

Giá mua của thương lái

Tăng/giảm so với hôm qua

Chư Sê (Gia Lai)

đồng/kg

147.000

+1.000

­­­Đắk Lắk

đồng/kg

147.500

+1.500

Đắk Nông

đồng/kg

147.500

+1.500

Bình Phước

đồng/kg

146.000

+1.000

Bà Rịa -Vũng Tàu

đồng/kg

146.000

+1.000

*Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm, từng địa phương.

Nguồn: Báo Công Thương

Page 19 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]