Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Hoa Kỳ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, còn Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong 10 tháng qua...
So với cùng kỳ năm ngoái, hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong 10 tháng năm nay đã tăng 12,8%. Trong khi đó, nhập khẩu từ Trung Quốc cũng tăng với con số 12,4%.
Theo số liệu mà Tổng cục Thống kê vừa công bố, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam từ đầu năm đến hết tháng 10/2018 ước tính đạt 200 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017.
Còn kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 193,84 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ bản, các thị trường xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam không có sự thay đổi đáng kể so với năm ngoái, có chăng chỉ là thay đổi con số tăng trưởng giữa các thị trường.
Theo đó, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Ba nhóm hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có sự tăng trưởng lớn nhất là điện thoại và linh kiện tăng 43,7%; giày dép tăng 15,9% và hàng dệt may tăng 13,6%.
Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam là EU đạt 34,9 tỷ USD trong 10 tháng qua, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Ba nhóm hàng xuất khẩu có mức tăng trưởng cao sang thị trường này là điện tử, máy tính và linh kiện tăng 26,5%; hàng dệt may tăng 14,8% và điện thoại và linh kiện tăng 6,6%.
Thị trường xuất khẩu xếp thứ ba là Trung Quốc với 32,1 tỷ USD, tăng 21,3%. Trong đó, điện thoại và linh kiện có mức tăng mạnh nhất, đạt 117,1%. Tiếp theo là điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,3% và mặt hàng rau quả tăng 14,1%.
Thị trường xuất khẩu tiềm năng thứ tư của Việt Nam là ASEAN đạt 20,6 tỷ USD, tăng 14,5%. Trong đó có ngành hàng xuất khẩu tăng cao nhất là gạo tăng 132,6%; sắt thép tăng 56,7% và hàng dệt may tăng 38,4%.
Nhật Bản và Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu xếp thứ năm và thứ sau, với kim ngạch lần lượt là 15,3 tỷ USD (tăng 10,6%) và 15 tỷ USD (tăng 23,5%).
Về nhập khẩu, Trung Quốc tiếp tục là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất, với kim ngạch đạt 52,9 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2017.
Đáng chú ý, trong cơ cấu nhóm hàng mà Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này thì xăng dầu tăng mạnh nhất, với 94,9%. Sản phẩm nhập khẩu thứ hai có sự tăng trưởng mạnh là vải tăng 17,4%. Các ngành hàng như điện tử, máy tính và điện thoại và linh kiện tăng lần lượt 10% và 3,9%.
Đứng thứ hai trong bản đồ nhập khẩu của Việt Nam là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 39,2 tỷ USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Những ngành hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc có sự bứt phá mạnh là sắt thép tăng 19,4%; xăng dầu tăng 17,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,1%.
ASEAN vẫn là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu nhiều thứ ba, đạt 26 tỷ USD, tăng 13,1%. Còn Nhật Bản đứng thứ tư với kim ngạch 15,5 tỷ USD, tăng 14,6%.
EU và Hoa Kỳ là hai thị trường Việt Nam nhập khẩu nhiều thứ tư và thứ năm. Trong đó, nhập khẩu từ EU trong 10 tháng qua đạt 11,2 tỷ USD, tăng 12,1%; còn nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt 10,6 tỷ USD, tăng 37,5%.
Duyên Duyên (Vneconomy)
Khảo sát thị trường nông sản hôm nay 31/10 cho thấy, giá tiêu tại một số địa phương vẫn tiếp đà tăng thêm 1.000 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay 31/10 vẫn giữ được đà tăng nhẹ 1.000 đồng/kg ở một số thị trường. Cụ thể, tại Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, giá tiêu đều ở mức 60.000 đồng/kg.
Tại Bình Phước, giá tiêu hôm nay 31/10 tăng 1.000 đồng so với hôm qua, cùng với Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành 2 địa phương có giá tiêu cao nhất nước: 61.000 đồng/kg. Giá tiêu ở Đồng Nai vẫn ổn định ở mức 58.000 đồng/kg.
Theo giới thương nhân quốc tế, trong vòng 10 ngày qua, giá tiêu đen ở một số nước đã tăng hơn 3% và tiêu trắng tăng hơn 5%, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ mùa đông và Tết năm mới.
Theo cùng xu hướng tăng, hôm qua thứ Hai ngày 29/10, giá tiêu đen xô tại thị trường Bà Rịa – Vũng Tàu đã tăng lên mức 61.000 đồng/kg, các thị trường còn lại dao động trong khoảng 59.000 – 60.000 đồng/kg, tại thị trường Gia Lai luôn ở mức thấp nhất 58.000 đồng/kg. Sự chênh lệch giá giữa các thị trường địa phương chủ yếu là do chi phí lưu thông.
Nhìn lại giá tiêu tại thị trường nội địa Việt Nam, giá tiêu đen ngày 18/10 dao động trong khoảng 54.000 – 57.000 đồng/kg tùy theo thị trường địa phương thì hôm nay đã tăng lên 58.000 – 61.000 đồng/kg, tức tăng hơn 7% cao hơn mức tăng bình quân của thế giới. Trong khi đó, giá tiêu trắng cũng tăng lên dao động ở mức 85.000 – 86.000 đồng/kg, tăng khoảng 4%, mức tăng không tương xứng.
Trên sàn hàng hóa NCDEX tại Kochi, Ấn Độ, giá tiêu kỳ hạn tháng 11 chốt phiên cuối tuần qua tăng thêm 420 Rupi lên ở mức 40.690 Rupi/tạ (tương đương 5.546 USD/tấn) , trong khi kỳ hạn tháng 12 tạm ngưng vì thiếu khách giao dịch.
Giá tiêu đen xô tại vùng Kanjangadu trong bang Kerala tăng 500 Rupi lên 32.500 Rupi/tạ (tương đương 4.429 USD/tấn) nhưng nguồn cung cũng ít ỏi, do thương nhân địa phương cũng không muốn bán vì đồng Rupi đang bị mất giá.
Theo dữ liệu thương mại, tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam hiện đang chào giá 2.635 USD/tấn cho loại 500 Gr/l và giá 2.785 USD/tấn cho loại 550 Gr/l, trong khi tiêu trắng chào giá 3.880 USD/tấn, tăng 60 – 80 USD so với tuần trước.
Theo giới thương mại nội địa, sở dĩ giá tiêu đen trong nước có mức tăng cao hơn mức bình quân chung của thế giới do có hiện tượng mua bù hợp đồng của các nhà xuất khẩu. Trong khi nguồn hàng nhập khẩu dự kiến từ Brasil và Indonesia vẫn chưa thấy về.
Khảo sát thị trường nông sản hôm nay 31/10 cho thấy, giá cà phê ở nhiều địa phương tiếp tục giảm 100-200 đồng/kg.
Đến lượt cà phê trầm lắng
Tại các tỉnh Tây Nguyên, giá cà phê hôm nay 31/10 giảm 200 đồng/kg xuống còn 35.500 - 36.000 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê tỉnh Lâm Đồng thấp nhất ở mức 35.500 đồng/kg và cao nhất là tại Gia Lai đạt 36.000 đồng/kg.
iá cà phê giao tại càng TP HCM đạt 1.556 USD/kg, giảm 120 USD so với hôm 30/10.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê robusta giao tháng 11 trên sàn ICE lúc 15h02 ngày 30/10 giảm mạnh 0,7% xuống 1.656 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao tháng 12 trên sàn New York lúc 17h30 ngày 30/10 giảm 1,6% xuống 112,4 UScent/pound.
Giá cà phê ở mức đáy 12 năm khiến nhiều người trồng cà phê tại Uganda càng chìm trong nghèo đói.
Trả lời phỏng vấn tờ Prosper Magazine, ông Emmanuel Iyamulemye, Giám đốc Cơ quan Phát triển ngành cà phê Uganda cho hay: “Giá cà phê thấp khiến người dân không mặn mà với việc chăm sóc cây. Điều này đồng nghĩa, quỹ của Cơ quan Phát triển Ngành cà phê Uganda cũng bị ảnh hưởng. Đồng thời nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế cà phê cũng giảm theo”.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, sản lượng cà phê thế giới năm 2017 - 2018 ước tăng 5,7% lên 164,81 triệu bao, trong đó gồm một phần vụ mùa mới cho các nhà sản xuất có niên vụ bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 7.
Sản lượng cà phê arabica và robusta tăng trong năm 2017 - 2018, mặc dù phần lớn sự tăng trưởng đến từ cà phê Robusta, tăng 11,7% lên 62,99 triệu bao so với năm 2016 - 2017.
“Mỗi năm Việt Nam nhập khẩu 60.000 tấn cà phê đã qua chế biến từ Brasil, Trung Quốc...”, “tỏi organic nhập khẩu có giá 100.000 đồng/củ, được khách hàng rất ưa chuộng”...
Những thông tin rời rạc xuất hiện trên báo chí trong thời gian vừa qua, mới nghe tưởng chẳng có gì liên quan nhưng lại cùng thể hiện một nghịch lý của thị trường thực phẩm Việt Nam: của ngon đem bán nước ngoài còn thị trường nội địa thì để nước ngoài khai thác.
Ví dụ như thông tin nhập khẩu cà phê. Đó là một điều không bình thường với một nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới, tới 1,8 triệu tấn cà phê nhân (năm 2017) như Việt Nam. Thực tế diễn ra bao nhiêu năm qua là những loại cà phê ngon nhất, đạt chất lượng nhất, đều được các doanh nghiệp, phần nhiều trong đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đem xuất khẩu dưới dạng thô, không thương hiệu. Còn ở trong nước, người dân có mức tiêu thụ ước tính 2,6 ki lô gam/năm, muốn uống một ly cà phê ngon lại thật khó khăn. Một số chấp nhận bỏ nhiều tiền để tìm đến quán của (không nhiều) những ông chủ có đất trồng cà phê, muốn làm cà phê thật cho người yêu cà phê. Đông hơn một chút vào các chuỗi cà phê nước ngoài, giá cũng không rẻ. Phần còn lại, chiếm phần lớn, hàng ngày vẫn uống cà phê trộn phụ gia, hương liệu, thậm chí là hóa chất nhưng cho cảm giác sánh, đậm.
Và không chỉ cà phê. Những loại thủy hải sản ngon nhất (như cá ngừ đại dương, tôm sú rừng ngập mặn Cà Mau...), những loại trái cây, rau củ, gạo đặc sản, trồng hữu cơ... đều tìm đường xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp khi có sản phẩm mới cũng nhìn ngay hoặc ưu tiên cho thị trường xuất khẩu, không phải là nội địa.
Làm hàng xuất khẩu hay bán trong thị trường nội địa hay cả hai là quyền quyết định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cà phê thích xuất khẩu thô vì đơn giản, thu hồi vốn nhanh, nhu cầu thị trường rất lớn, nên thờ ơ với thị trường cà phê chế biến. Doanh nghiệp trái cây, rau củ thích xuất khẩu vì đó là thị trường đem lại biên lợi nhuận cao. Có doanh nghiệp xuất khẩu đơn giản chỉ vì thị trường trong nước đã “quá loạn”, không thể chen chân. Cũng có doanh nghiệp đồng thời làm hàng cho thị trường trong nước nhưng yêu cầu về lao động hay về nguyên liệu đầu vào lại thấp hơn hàng xuất khẩu. Thế mới có chuyện, công nhân ở xưởng hàng nội địa bị thương ở tay vẫn đi làm bình thường còn xưởng xuất khẩu thì không.
Nhưng hệ lụy từ sự lựa chọn này của doanh nghiệp thì lại đã, đang và còn tác động mạnh mẽ đến thị trường nội địa tới hơn 90 triệu dân và có mức thu nhập ngày càng cải thiện.
Vì doanh nghiệp trong nước bận chinh chiến, đánh bắt “xa bờ” nên thị trường nội địa trở thành mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp nước ngoài khai thác. Những tên tuổi lớn trên thị trường cà phê bột, rang xay đang là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Các nhà sản xuất thực phẩm chế biến lớn cũng đổi chủ ngoại gần hết, chưa kể thống lĩnh cả chuỗi cung ứng là doanh nghiệp ngoại...
Hàng nhập khẩu đang tràn ngập thị trường, cả thượng vàng lẫn hạ cám, nhiều khi lẫn lộn nhau. Người nhiều tiền mua hàng “xịn”, năm bảy triệu đồng một ký nho, vài chục triệu đồng một con cua... Trong đó, có những loại, ở nước xuất khẩu, chỉ là hàng bình thường nhưng về Việt Nam “được” thổi giá vì mác ngoại. Người ít tiền hơn có thể bị lừa bởi táo Trung Quốc gắn mác Nhật Bản, Mỹ, New Zealand. Thực tế này không chỉ vì một bộ phận người tiêu dùng “sính ngoại” mà còn vì họ không có nhiều sự lựa chọn, vì vậy chấp nhận cả xác suất bị... lừa. Trước đó, trong một thời gian dài, sự thờ ơ hoặc phân biệt đối xử về tiêu chuẩn hàng hóa đã khiến người tiêu dùng mất lòng tin vào hàng sản xuất trong nước.
Còn những doanh nghiệp Việt muốn quay về hoặc muốn bắt đầu bằng thị trường nội địa thì đang gặp lắm gian truân. Trong đó, phổ biến nhất là người tiêu dùng hiểu sai và đã bị làm hỏng khẩu vị (vì cà phê độn bắp, đậu nành hay trái cây sấy đã được tẩy trắng trước khi nhuộm màu đẹp và cho hương liệu...). Đáng sợ hơn là mất lòng tin. Chính vì vậy, nói như một chủ doanh nghiệp có 30 năm kinh doanh và cũng từng mải mê chinh chiến xuất khẩu, phải kiên trì và chịu thiệt để lấy lại thị trường trong nước. Việc đó, rất mất thời gian, công sức và tiền bạc.
Khó nhưng chắc chắn, doanh nghiệp cần phải làm. Bởi, nói như một chuyên gia thị trường người Ấn Độ tại “Lễ hội sức khỏe và dinh dưỡng 2018” mới đây thì chỉ khi nào doanh nghiệp xây dựng và tự hào với thương hiệu “Made in Vietnam” thì mới có thể vững vàng bước ra thế giới (với giá trị gia tăng cao). Chỉ khi những tiêu chuẩn từ Việt Nam được thế giới công nhận thì cánh cửa tiếp cận thị trường toàn cầu mới rộng mở thực sự. Đó cũng là cách Việt Nam xóa đi định kiến “hàng giá rẻ, chất lượng thấp” mà nhiều thị trường lớn đã đánh giá lâu nay.
Bùi Tâm An (thesaigontimes)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "