Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Nhiều chính sách, quy định mới của Chính phủ và các bộ ngành sẽ có hiệu lực từ tháng 2/2017...
Trả thưởng của trò chơi điện tử có thưởng tối thiểu 99%
Nghị định 175/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều quy định tại Nghị định số 86/2013 của Chính phủ về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài có hiệu lực từ 15/2/2017, quy định về thiết bị trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.
Cụ thể, các máy trò chơi điện tử có thưởng được sử dụng trong điểm kinh doanh phải là máy mới 100%, có thông số kỹ thuật do nhà sản xuất máy trò chơi điện tử có thưởng công bố và đã được tổ chức kiểm định độc lập hoạt động tại các nước G7 cấp chứng nhận kiểm định.
Tỷ lệ trả thưởng cố định tối thiểu đối với các máy giật xèng là 90% (đã bao gồm giải thưởng tích lũy) và được cài đặt sẵn trong máy. Trường hợp doanh nghiệp thay đổi tỷ lệ trả thưởng phải đảm bảo tỷ lệ trả thưởng không thấp hơn tỷ lệ trả thưởng tối thiểu theo quy định, doanh nghiệp phải làm thủ tục kiểm định lại trước khi đưa máy vào sử dụng và phải quy định cụ thể tỷ lệ trả thưởng trong thể lệ trò chơi.
Thủ tục cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài
Nghị định số 07/2017 ngày 25/01/2017 quy định trình tự, thủ tục thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam có hiệu lực từ 1/2/2017.
Theo Nghị định, người nước ngoài đề nghị cấp thị thực điện tử thực hiện như sau.
- Truy cập Trang thông tin cấp thị thực điện tử để khai thông tin đề nghị cấp thị thực điện tử, tải ảnh và trang nhân thân hộ chiếu theo mẫu.
- Nhận mã hồ sơ điện tử và nộp phí cấp thị thực vào tài khoản quy định tại Trang thông tin cấp thị thực điện tử.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ thông tin đề nghị cấp thị thực điện tử và phí cấp thị thực, Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, giải quyết, trả lời người đề nghị cấp thị thực điện tử tại Trang thông tin cấp thị thực điện tử.
Hỗ trợ nông dân bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
Theo Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 9/1/2017 về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh có hiệu lực từ ngày 25/2/2017, mức hỗ trợ cao nhất đối với: cây trồng là 30 triệu đồng/ha; sản xuất lâm nghiệp là 20 triệu đồng/ha; nuôi thủy, hải sản 60 triệu đồng/ha.
Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho các hộ sản xuất có gia súc, gia cầm phải tiêu hủy bắt buộc do mắc dịch bệnh hoặc trong vùng có dịch bắt buộc phải tiêu hủy với mức hỗ trợ cụ thể: Hỗ trợ 38.000 đồng/kg hơi đối với lợn; hỗ trợ 45.000 đồng/kg hơi đối với trâu, bò, dê, cừu, hươu, nai; hỗ trợ 35.000 đồng/con gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng).
Đối với sản xuất muối, Nhà nước hỗ trợ 1.500.000 đồng/ha diện tích sản xuất muối bị thiệt hại trên 70%; thiệt hại từ 30% - 70% được hỗ trợ 1.000.000 đồng/ha.
Mức phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường
Theo Nghị định số 155/2016 ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có hiệu lực từ 1/2/2017, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm là 1 tỷ đồng, đối với tổ chức là 2 tỷ đồng.
Nhiệm kỳ của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn là hai năm. Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn có từ 5 đến 11 thành viên.
Đối với những xã, phường, thị trấn ở đồng bằng có số dân dưới 5 nghìn người thì được bầu 5 hoặc 7 thành viên; từ 5 nghìn người đến dưới 9 nghìn người thì được bầu 7 hoặc 9 thành viên; từ 9 nghìn người trở lên thì được bầu 9 hoặc 11 thành viên. Đối với những xã, phường, thị trấn ở miền núi, trung du và hải đảo, mỗi thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố được bầu 1 thành viên, nhưng số lượng thành viên Ban Thanh tra nhân dân không quá 11 người.
Đối tượng, điều kiện mua hàng miễn thuế
Nghị định 167/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 về kinh doanh hàng miễn thuế đã được Chính phủ ban hành có hiệu lực từ 15/2/2017. Nghị định quy định cụ thể đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế, trong đó, người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.
Bỏ quy định hoàn thuế VAT tàu khai thác hải sản đóng mới 400 CV trở lên
Có hiệu lực từ 15/02/2017, Nghị định 172/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 sửa đổi Nghị định số 67/2014 ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, trong đó bỏ quy định về ưu đãi thuế đối với chủ tàu khai thác hải sản được hoàn thuế giá trị gia tăng của tàu dùng để khai thác hải sản đối với tàu được đóng mới, nâng cấp có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.
Chế độ bồi dưỡng cán bộ tiếp dân
Theo Thông tư 320/2016 của Bộ Tài chính có hiệu lực từ 1/2, những người làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được hưởng chế độ bồi dưỡng như sau:
Cán bộ làm nhiệm vụ ở trụ sở hoặc địa điểm tiếp công dân được bồi dưỡng 100.000 đồng/ngày/người nếu chưa được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề; Cán bộ đang hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề được bồi dưỡng 80.000 đồng/ngày/người. Cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền giao hoặc phân công làm nhiệm vụ tại trụ sở tiếp công dân Trung ương được bồi dưỡng 150.000 đồng/ ngày/người.
Miễn lệ phí cấp thẻ căn cước công dân
Theo Thông tư 331/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 256/2016 ngày 11/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp căn cước công dân, từ ngày 10/2, các trường hợp miễn lệ phí sẽ chính thức được thu hẹp lại còn 3 trường hợp, bao gồm: Đổi thẻ căn cước công dân khi Nhà nước quy định thay đổi địa giới hành chính; Đổi, cấp lại thẻ căn cước cho công dân dưới 18 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa; Đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân cho công dân là bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ;...
Ngoài ra, Thông tư này cũng sửa đổi quy định người nộp lệ phí là công dân Việt Nam "từ đủ 14 tuổi trở lên" thay vì "từ đủ 16 tuổi trở lên khi làm thủ tục cấp mới, đổi, cấp lại thẻ" như trước đây.
Điều chỉnh tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội
Theo Thông tư 42/2016 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm, từ ngày 11/2, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội sau điều chỉnh của từng năm bằng tổng tiền lương tháng đóng bảo hiểm theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định của từng năm nhân với mức điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm của năm tương ứng.
Trong đó, mức điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội của các năm từ 2012 đến 2017 lần lượt là 1,15; 1,08; 1,03; 1,03; 1,00 và 1,00.
Thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau điều chỉnh của từng năm được xác định bằng tổng thu nhập tháng đóng bảo hiểm của từng năm nhân với mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm của năm tương ứng. Trong đó, mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm của các năm từ 2008 đến 2017 lần lượt là 1,73; 1,62; 1,48; 1,25; 1,15; 1, 08; 1, 03; 1, 03; 1,00 và 1,00.
Ngoài ra, một số quy định về khoán rừng, vườn cây, diện tích mặt nước; Tổ chức, nhiệm vụ Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn; Tổ chức, hoạt động của Thanh tra ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch…cũng sẽ có hiệu lực từ tháng 2/2017.
Nguồn Vneconomy
Tiêu thụ cà phê đang ngày càng khả quan hơn khi thời gian gần đây giá cà phê tăng lên mức kỷ lục. Yếu tố này đã tạo đà cho xuất khẩu cà phê tăng trưởng mạnh.
Xuất khẩu bứt phá
Tại thời điểm này, tiêu thụ cà phê đang trên đà tăng mạnh, ông Đỗ Hà Nam- Chủ tịch Tập đoàn Intimex - một trong những đơn vị chiếm 30% lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam - khẳng định, giá cà phê liên tục tăng từ tháng 4/2016 và đến nay, giá thu mua đã lên đến 46.000 đồng/kg. Đây là mức giá cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Kim ngạch xuất khẩu dự báo có thể lên tới khoảng 3 tỷ USD, trong khi năm ngoái chỉ đạt 2,5 tỷ USD.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho thấy, xuất khẩu cà phê tháng 10 đạt 121 nghìn tấn với giá trị đạt 246 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 10 tháng năm 2016 đạt 1,5 triệu tấn và 2,76 tỷ USD, tăng 40,2% về khối lượng và 25,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015, được coi là cán đích sớm.
Trong đó, Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng năm 2016 với thị phần lần lượt là 15,2% và 13,2%. Giá trị xuất khẩu cà phê trong 9 tháng ở hầu hết các thị trường chính của Việt Nam đều tăng mạnh: Philippines (74,3%), Angiêri (59,7%), Trung Quốc (56,3%), Hoa Kỳ (45,3%), Đức (37,4%), Italia (17,9%) và Nhật Bản (15,4%).
Thị trường xuất khẩu cà phê nổi bật nhất phải kể đến Angiêri với mức tăng tăng 81% về lượng và tăng 66% về giá trị, đạt 57.077 tấn với kim ngạch 98 triệu USD. Hiện cà phê là mặt hàng xuất khẩu số một của Việt Nam vào Angiêri.
Triển vọng từ cà phê chế biến
Ông Lương Văn Tự - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam - nhận định, năm 2016, xuất khẩu cà phê Việt Nam hoàn toàn có thể đạt trên 1,7 triệu tấn và giá trị có thể đạt trên 3 tỷ USD. “Điều đáng chú ý là đóng góp ngày càng lớn của các sản phẩm cà phê chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam. Cụ thể, trong năm nay, xuất khẩu cà phê chế biến có thể đạt khoảng 350 triệu USD”- ông Tự nhấn mạnh.
Xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam được dự báo sẽ còn tăng mạnh trong những năm tới do nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực này. Đơn cử như Nestlé đã đầu tư gần 300 triệu USD và đưa vào hoạt động nhà máy chế biến cà phê hòa tan tại tỉnh Đồng Nai. Các công ty trong nước như: Trung Nguyên, Mê Trang, Vinacafe… đang mở rộng quy mô sản xuất. Tập đoàn Tín Nghĩa và một số doanh nghiệp trong nước khác cũng đang triển khai các dự án chế biến cà phê hòa tan xuất khẩu.
Các chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam ký các hiệp định thương mại tự do với EU, Liên minh Kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc… cũng sẽ tạo cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu cà phê chế biến của Việt Nam. Nếu như trước đây chỉ cà phê nhân của Việt Nam xuất khẩu vào những thị trường này mới được hưởng mức thuế 0%, còn các sản phẩm cà phê chế biến phải chịu mức thuế cao từ 15 - 20% thì nay với những hiệp định thương mại tự do, cà phê chế biến của Việt Nam chỉ chịu thuế 0 - 5% sẽ tạo điều kiện cho việc xuất khẩu vào các thị trường đã ký FTA trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn.
<pÔng Lương Văn Tự - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam: Ngành hàng cà phê đang chuyển sang thời kỳ nâng cao giá trị hạt cà phê bằng cách đẩy mạnh chế biến rang xay, hòa tan và các sản phẩm khác. Qua đó góp phần quan trọng nâng giá trị xuất khẩu cà phê lên 5 - 6 tỷ USD vào năm 2030.
Nguồn: Báo Công Thương
Khác với những năm trước, năm nay sản lượng cà phê của Việt Nam giảm đáng kể và có thể đây là yếu tố giúp giá cà phê tiếp tục ở mức trên dưới 40.000 đồng/kg.
Theo VICOFA, sản lượng cà phê niên vụ 2016-2017 của Việt Nam sụt giảm hơn mọi năm và ước đạt 24 triệu bao (mỗi bao là 60kg), trong khi niên vụ 2015-2016 là 27,5 triệu bao, tức là giảm 3,5 triệu bao. Do đó, giá cà phê trong năm nay nhiều khả năng sẽ ở mức ổn định như hiện nay.
Dự báo của VICOFA cũng có phần giống với dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa ra trước đó về khả năng xuất khẩu cà phê của Việt Nam niên vụ 2016-2017 vào khoảng 25,1 triệu bao, thấp hơn dự báo trước đó 2,1 triệu bao của cơ quan này.
Thực tế cũng cho thấy, đây là năm mà người trồng cà phê bị thiệt hại nhiều nhất. Theo thường lệ, từ đầu tháng 10 là thời điểm bắt đầu thu hoạch cà phê nhưng do hạn hán nên đến nay tại Đăk Lăk - thủ phủ cà phê của Việt Nam nhiều vườn cây cà phê vẫn còn ra hoa. Bên cạnh đó, đầu tháng 12, tại một số tỉnhTây Nguyên, nơi chiếm hơn 90% diện tích trồng cà phê của cả nước có nhiều trận mưa lớn khiến cho nhiều diện tích trồng cà phê đang ra hoa bị thiệt hại.
Do vậy, từ cuối tháng 11 giá cà phê trên thị trường các tỉnh Tây Nguyên đã bắt đầu tăng và dần dần vượt qua ngưỡng 40.000 đồng/kg. Hiện tại, giá cà phê vào ngày 9-12 dao động từ 41.800 đồng đến 42.500 đồng/kg tùy theo từng địa phương. Mức giá này được VICOFA dự báo sẽ giữ ổn định trong thời gian tới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 11-2016, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 1,6 triệu tấn, giá trị thu về gần 3 tỉ đô la Mỹ, tăng hơn 36% về lượng và gần 24% về giá trị. Lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị thu về không tăng tương ứng là do giá cà phê xuất khẩu trong nhiều tháng qua giảm. Cụ thể, giá cà phê xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm 2016 đạt 1.817 đô la Mỹ/tấn, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm 2015.
Nguồn: Thesaigontimes
Tháng 1 năm 2017, xuất khẩu gạo và cà phê đều giảm mạnh cả về giá trị và khối lượng so với cùng kỳ năm ngoái.
Cụ thể, xuất khẩu cà phê, trong tháng 1 năm 2017 ước đạt 127.000 tấn với giá trị đạt 287 triệu USD, giảm 26,5% về khối lượng và giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.
Giá cà phê xuất khẩu bình quân năm 2016 đạt 1.872 USD/tấn, giảm 6% so với năm 2015. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong năm 2016 với thị phần lần lượt là 14,8% và 13,5%. Giá tri ̣xuất khẩu cà phê trong năm 2016 ở hầu hết các thi ̣trường chính của Việt Nam đều tăng so với năm 2015, ngoại trừ thị trường Tây Ban Nha có giá trị giảm (giảm 8,3%).
Năm 2016, các thi ̣trường có giá tri ̣xuất khẩu cà phê tăng mạnh là Angeria (64,5%), Philippines (63,6%), Trung Quốc (45%), Mỹ (43,6%), Đức (37,6%), Bỉ (33,1%), Italia (23,6%), Nhật Bản (17,7%) và Nga (14%).
Còn khối lượng gạo xuất khẩu tháng 1 năm 2017 ước đạt 325.000 tấn với giá trị đạt 136 triệu USD, giảm 32% về khối lượng và giảm 35,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.
Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2016 đạt 449 USD/tấn, tăng 6,2% so với năm 2015. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2016 với 36% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong năm 2016 đạt 1,74 triệu tấn và 782,3 triệu USD, giảm 17,5% về khối lượng và giảm 8,6% về giá trị so với năm 2015.
Gana-thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai của Việt Nam trong năm 2016 với 11,5% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong năm 2016 đạt 503,7 nghìn tấn và 248,9 triệu USD, tăng 38,9% về khối lượng và tăng 34,5% về giá trị so với năm 2015.
Năm 2016, các thi ̣trường có giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh là Philippines (64,1%), Indonesia (51,8%), Malaysia (45,5%), Mỹ (33,9%), Singapore (30,8%), Bờ Biển Ngà (21,1%) và Hong Kong (20,4%).
Nguồn: VOV.vn
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "