PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

(KTSG) – Năm 2021, khi tình hình dịch Covid-19 trở nên căng thẳng hơn, Chính phủ và Bộ Tài chính tiếp tục dựa trên những quy định của năm 2020 để đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích hỗ trợ và vực dậy các doanh nghiệp.

Năm ngoái, Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đáng chú ý, như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), gia hạn nộp thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Nhưng với tình hình dịch Covid-19 quá phức tạp và số lượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường trong sáu tháng đầu năm nay đã tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái, năm nay, Bộ Tài chính tiếp tục soạn thảo thêm một số đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp.

 – những chính sách đáng chú ý

Nghị quyết 42/NQ-CP được ban hành ngày 9-4-2020 nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết 154/NQ-CP ngày 19-10-2020 sửa đổi Nghị quyết 42/NQ-CP về các khoản hỗ trợ vay không có tài sản đảm bảo, với lãi suất vay 0% tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) còn được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; các hộ, cá thể kinh doanh thỏa điều kiện sẽ được hỗ trợ 1.000.000 đồng/tháng.

Thêm nữa, Nghị định 41/2020/NĐ-CP ngày 8-4-2020 gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất, thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cho doanh nghiệp. Về thuế TNDN, doanh nghiệp nào có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỉ đồng sẽ được giảm 30% thuế TNDN phải nộp (theo Nghị quyết 116/2020/QH14 của Quốc hội và Nghị định 114/2020/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn Nghị quyết 116(1)).

Bộ Tài chính cũng đã ban hành 19 thông tư để miễn giảm phí, lệ phí một số lĩnh vực như hoạt động của ngân hàng, xây dựng, chứng khoán… do Covid-19(2). Các giải pháp hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đã giúp doanh nghiệp hạn chế được việc cắt giảm lao động, đồng nghĩa với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Việc này cũng giúp cho Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế có mức tăng trưởng dương trong năm 2020 (2,91%)(3).

Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 trở nên căng thẳng hơn, Chính phủ và Bộ Tài chính tiếp tục dựa trên những quy định của năm 2020 để đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích hỗ trợ và vực dậy các doanh nghiệp.

Những chính sách ưu đãi thuế được áp dụng đến nay

Tiếp nối Nghị định 41, Nghị định 52/2021 ngày 19-4-2021 của Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2021. Theo đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (trong một số ngành, nghề nhất định) cũng thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định 52. Ngoài ra, Thông tư 47/2021/TT-BTC ngày 24-6-2021 quy định mức thu mới cho 30 khoản phí, lệ phí trong một số lĩnh vực hoạt động như ngân hàng, xây dựng, chứng khoán. Tuy nhiên, các mức phí, lệ phí này giảm không đáng kể, nên nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện áp dụng nhưng không ghi nhận tác động tích cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp lúc này.

Gần đây, ngày 1-7-2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ NSDLĐ và NLĐ gặp khó khăn do dịch Covid-19. Tuy nhiên, Nghị quyết 68 chỉ có một số điểm cải thiện so với Nghị quyết 42. Ví dụ, theo Nghị quyết 42, nếu muốn được hưởng chính sách về NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 50% số NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm cơ quan có thẩm quyền công bố dịch (kể cả NLĐ ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì NSDLĐ và NLĐ được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Còn theo Nghị quyết 68, chỉ cần NSDLĐ giảm từ 15% số NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm tháng 4-2021 thì sẽ được áp dụng chính sách này. Hay như trước đây, hộ kinh doanh cá thể thuộc trường hợp được áp dụng Nghị quyết 42 sẽ được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ/tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng không quá ba tháng, thì theo Nghị quyết 68, sẽ được nhận một lần 3.000.000 đồng/hộ.

Các đề xuất hiện tại của Bộ Tài chính và tình hình thực tế

Giảm 50% thuế đối với tất cả hộ, cá nhân kinh doanh. Bộ Tài chính đang soạn thảo chính sách giảm 50% thuế phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong quí 3 và quí 4 năm 2021 đối với hộ, cá nhân kinh doanh trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, mọi địa bàn.

Tuy nhiên, đa số các hộ kinh doanh đều đã phải đóng cửa tại thời điểm này, nếu còn hoạt động thì cũng chỉ tạm bợ, cố gắng cầm cự. Vì vậy, có ý kiến cho rằng, để hỗ trợ tối đa cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ còn hoạt động, thay vì giảm 50% thuế, Chính phủ nên xem xét miễn thuế hoàn toàn.

Ưu đãi thuế TNDN. Bộ Tài chính đang dự thảo đề xuất giảm 30% thuế TNDN năm 2021 cũng như miễn tiền phạt chậm nộp phát sinh trong hai năm 2020-2021 đối với doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ liên tục trong ba năm từ 2018-2020.

Đề xuất này được cho là sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn tài chính để xoay sở, dự trữ nguồn vốn, tái sản xuất cũng như trả lương cho NLĐ. Tuy nhiên, với thực tế hơn 70.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong sáu tháng đầu năm 2021 và không ít doanh nghiệp đang lỗ nặng, phương án này có vẻ chưa hỗ trợ những nhu cầu cứu trợ sát sườn của doanh nghiệp.

Ưu đãi thuế GTGT. Đối với thuế GTGT – một loại thuế gián thu, Bộ Tài chính cũng đề xuất Chính phủ giảm 30% đối với doanh nghiêp, tổ chức hoạt động trong một số nhóm lĩnh vực dịch vụ nhằm giúp giảm một phần giá bán hàng hóa, dịch vụ, thu hút người mua và đẩy lượng sản phẩm tiêu thụ lên. Có thể nói, chính sách này có thể tác động tích cực cho nguồn tài chính trung và dài hạn, nhưng lại chỉ áp dụng cho một số lĩnh vực, dịch vụ nhất định.

Ưu đãi thuế TNCN. Việc gia hạn thời hạn nộp thuế TNCN theo Nghị định 52/2021 giúp các cá nhân, hộ kinh doanh có thể hoãn nộp thuế TNCN đáng lẽ phải nộp trong năm 2021. Nhưng suy cho cùng, điều này không giải quyết được vấn đề khó khăn cấp thời cho các hộ, các cá nhân kinh doanh.

Bởi lẽ hiện đa số doanh nghiệp đều giảm thời giờ làm việc, dẫn đến giảm lương, đồng nghĩa với thuế TNCN giảm tương ứng; một số doanh nghiệp đã tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động để NLĐ nhận lương ngừng việc theo quy định, nên số thuế TNCN phải thu không đáng kể.

Thêm nữa, đa số doanh nghiệp đều trả lương trước thuế (gross), việc thu thuế TNCN trên cơ sở doanh nghiệp thu hộ cho Nhà nước, nếu Nhà nước chưa thu thì doanh nghiệp chưa khấu trừ thuế của NLĐ nên chỉ có NLĐ được lợi ích trực tiếp còn doanh nghiệp thì không, hay chỉ có lợi ích gián tiếp. Vì thế, quy định này cũng chỉ mang tính chất trì hoãn, không có nhiều tác động tích cực trong lúc này.

Một số kiến nghị từ thực tế

Như đã trình bày, các đề xuất Bộ Tài chính góp phần vào những chính sách mang tính trung và dài hạn, tính cấp bách không cao, chưa giải quyết được những khó khăn trước mắt của hầu hết các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Do vậy, cần gấp rút có các chính sách giúp thêm nguồn tiền để những chủ thể này duy trì sản xuất, kinh doanh.

Thứ nhất, thay vì gia hạn thời gian nộp thuế hay giảm 30% thuế TNDN, Chính phủ nên miễn tiền thuế TNDN trong năm 2021 cho những doanh nghiệp có doanh thu năm 2020 dưới 200 tỉ đồng. Đối với thuế GTGT, nên giảm 50% hoặc miễn thuế năm 2021 và áp dụng cho tất cả các loại hình sản xuất, kinh doanh.

Đối với thuế TNCN thì nên nâng mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế thu nhập từ 11 triệu đồng/tháng lên 20 triệu đồng/tháng để NLĐ có thêm tiền xoay xở cuộc sống hằng ngày, an tâm tiếp tục tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ hai, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước phối hợp ban hành chính sách cho các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp vay với lãi suất 0% trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là 3, 6 hoặc 12 tháng, nhắm hỗ trợ họ duy trì sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, Nghị quyết 68/NQ-CP đặt ra điều kiện để NSDLĐ và NLĐ được tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất 06 tháng kể từ thời điểm nộp hồ sơ là số lượng NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội phải giảm từ 15% trở lên so với thời điểm tháng 4-2021, nhưng với tình hình dịch bệnh hiện nay, quy định trên cần được sửa đổi theo hướng áp dụng cho tất cả đối tượng là NSDLĐ bởi khó khăn về kinh tế là tình hình chung của tất cả NSDLĐ.

Nói tóm lại, ngoài các chính sách ưu đãi có thể dùng cho trung và dài hạn giúp các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp duy trì một số nguồn vốn để tái đầu tư trong và sau đại dịch, Chính phủ và các bộ ngành cần bổ sung các chính sách thuế nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách của các chủ thể kinh doanh hiện nay.

Hơn thế, các chính sách để áp dụng sau khi chấm dứt đại dịch cũng rất cần thiết vì khi bắt đầu khôi phục là lại một lần thay đổi các mức thuế, phí, lệ phí so với các những gì đang được áp dụng hiện nay. Để tránh gây “sốc” cho các chủ thể kinh doanh, việc lập phương án sau đại dịch phải theo một kế hoạch, lộ trình cụ thể, tránh áp dụng đột ngột, vì người kinh doanh cần thời gian để phục hồi các hoạt động của họ.

(KTSG Online) – Các nước giàu trên thế giới đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng về việc cần phải tái phân phối nguồn cung vaccine Covid-19 dồi dào của họ cho các nước có thu nhập thấp, đặc biệt là sau khi một báo cáo mới của hãng phân tích dữ liệu Airfinity cho thấy họ có thể dư 1,2 tỉ liều vào cuối năm nay.

Báo cáo của hãng Airfinity, có trụ sở tại London (Anh), cho rằng sau khi đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước, bao gồm tiêm chủng cho 80% dân số trên 12 tuổi và triển khai chương trình tiêm tăng cường, các nước giàu gồm Anh, Mỹ cũng như các cường quốc khác ở Liên minh châu Âu (EU) vẫn còn dư môt lượng vaccine Covid-19 đáng kể để tái phân phối trên toàn cầu.

Tuy nhiên, cho đến nay, các nước giàu này chỉ mới phân bổ một lượng nhỏ vaccine Covid-19 mà họ đã cam kết dành cho các nước nghèo hơn vì một vài nước trong số họ lên kế hoạch tiêm mũi tăng cường (mũi thứ 3) cho người dân để chạy đua chống lại biến thể Delta của virus SARS-CoV-2.

Các tổ chức vận động công bằng y tế lo ngại tốc độ tái phân phối vaccine quá chậm của các nước giàu sẽ khiến đại dịch kéo dài, làm gia tăng rủi ro xuất hiện thêm các biến thể khác. Một số tổ chức cũng đang kêu gọi các chính phủ và các nhà sản xuất vaccine Covid-19 phải minh bạch hơn trong các thỏa thuận mua bán vaccine.

“Cần phải có một sự tính toán khẩn cấp trên toàn cầu. Chúng ta cần chuyển các liều vaccine dư cho những nước đang cần và công khai tất cả các hợp đồng mua bán vaccine”, Fatima Hassan, nhà sáng lập kiêm Giám đốc Sáng kiến công bằng y tế, một tổ chức phi lợi nhuận ở Cape Town, Nam Phi, nói.

Hồi đầu năm nay, một báo cáo đánh giá độc lập về phản ứng quốc tế với Covid-19 hối thúc các nước giàu cung cấp hơn 2 tỉ liều vaccine cho các khu vực nghèo vào giữa năm 2022. Tuy nhiên, cho đến nay, khối cường quốc công nghiệp G7 và Liên minh châu Âu (EU) chỉ mới giao 15% trong số hơn 1 tỉ liều vaccine mà họ đã cam kết phân bổ lại cho các nước nghèo, hãng phân tích dữ liệu Airfinity cho hay.

Rasmus Bech Hansen, Giám đốc điều hành Airfinity, giải thích rằng sự chậm trễ này thường là do các nước giàu loay hoay cân nhắc nên triển khai chương trình tiêm tăng cường ở trong nước hay là tái phân phối vaccine ra bên ngoài. “Dữ liệu của chúng tôi cho thấy đang có sự lựa chọn sai trái ở các nước giàu vì họ có thể làm cả hai việc này cùng lúc”, Hansen nói.

Ông cho biết sản lượng vaccine Covid-19 trên toàn cầu đang tăng đều đặn và nguy cơ gián đoạn sản xuất ít khả năng xảy ra. Airfinity ước tính sản lượng vaccine Covid-19 toàn cầu có thể vượt 12 tỉ liều vào cuối năm nay, cao hơn con số gần 11 tỉ liều để tiêm đầy đủ 2 mũi cho 70% dân số thế giới.

Các nước phương Tây đang có 500 triệu liều dôi dư có thể tái phân bổ cho các nước nghèo và một phần trong số đó đã được họ hiến tặng. Phân tích của Airfinity cho thấy đến giữa năm 2022, lượng vaccine Covid-19 dôi dư của họ sẽ tăng lên mức 2,2 tỉ liều. Vaccine của Pfizer chiếm khoảng 45% tổng số liều dôi dư có thể tái phân phối, trong lúc đó, tỷ lệ này của vaccine Moderna khoảng gần 25%.

Nhiều nước nghèo đang phụ thuộc vào Covax, một chương trình do nhiều tổ chức bao gồm Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hợp tác triển khai nhằm cung cấp sự tiếp cận vaccine công bằng cho mọi nước. Tuy nhiên, chương trình đang triển khai chậm so với mục tiêu ban đầu. Hồi tháng 8, Tổng giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus, kêu gọi các nước giàu khoan tiêm mũi tăng cường cho đến khi các nước nghèo được tiếp cận nguồn cung vaccine phân phối dồi dào hơn.

Trong khi đó, tại Mỹ, kế hoạch tiêm mũi tăng cường do Nhà Trắng đề xuất đang gây tranh cãi và vấp phải sự phản đối của các quan chức ở Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) và Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) vì họ cho rằng thiếu bằng chứng khoa học để chứng minh tiêm mũi thứ 3 vào lúc này là điều cần thiết. Giới lãnh đạo y tế ở EU cũng cho biết mũi tăng cường chưa cần thiết vì tác dụng của các mũi tiêm vaccine hiện nay vẫn còn.

“Các nước có thu nhập cao đã đặt mua lượng vaccine cao gấp đôi so với nhu cầu của họ. Đây là lúc để bày tỏ sự đoàn kết với những nước chưa thể tiêm đầy đủ vaccine cho nhân viên y tế tuyến đầu và phần lớn nhóm dân số dễ tổn thương”, Johnson Sirleaf, cựu đồng Chủ tịch Ủy ban độc lập về chuẩn bị và ứng phó đại dịch (IPPPR), nói.

Rasmus Bech Hansen, Giám đốc điều hành Airfinity, cho rằng cần phải tăng cường nỗ lực phối hợp trên toàn cầu để cho phép những người có vaccine dồi dào bán lại hoặc hiến tặng số vaccine dư dôi. Ông nói: “Đó không chỉ đơn thuần là cuộc thảo luận giữa nước giàu và nước nghèo. Mỹ, Anh và EU có thể ngồi lại để nhất trí một thỏa thuận thúc đẩy việc tái phân phối vaccine dư dôi của họ”.

Theo Bloomberg

Nông dân ở tỉnh Lâm Đồng đang chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2021.

Tuy nhiên, do dịch COVID-19 nên nguồn lao động ngoại tỉnh đến thu hoạch cà phê gặp nhiều khó khăn, trong khi nguồn nhân lực tại chỗ chỉ đáp ứng từ 40-50%.

Thiếu nguồn nhân công ngoại tỉnh

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng, vụ mùa năm nay, trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 173.660ha cà phê. Trong đó, diện tích cà phê kinh doanh khoảng 162.129ha, năng suất bình quân 32 tạ/ha, sản lượng ước đạt 518.603 tấn cà phê nhân (tương đương 2.342.186 tấn cà phê tươi).

Vụ mùa thu hoạch cà phê năm nay đang đến gần. Qua rà soát, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng dự kiến nhân công lao động phục vụ nhu cầu thu hoạch cà phê niên vụ 2021 khoảng 7.869.230 công. Thời gian thu hoạch cà phê sẽ kéo dài trong khoảng thời gian 3 tháng cuối năm 2021.

Tình hình thực tế cho thấy, lực lượng lao động thu hái cà phê tại chỗ chỉ đáp ứng khoảng 40 - 50%, số còn lại chủ yếu là lao động đến từ ngoại tỉnh. Tuy nhiên, do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, việc thuê lao động từ ngoài tình về Lâm Đồng để thu hoạch cà phê là rất khó thực hiện. 

Chia sẻ về vấn đề này, ông Phan Văn Hảo, một nông dân ở huyện Bảo Lâm cho biết: "Năm nay gia đình tôi có 2 ha cà phê chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch. Hiện nay, gia đình tôi đang thuê mướn nhân công nhưng mọi thứ không hề đơn giản. Những năm trước, với 2ha cà phê gia đình tôi sẽ thuê 3 nhân công ngoại tỉnh đến thu hoạch, phơi sấy trong khoảng thời gian 2 tháng thì hoàn thành. Thế nhưng năm nay, việc thuê người ngoại tỉnh là không khả thi". 

Theo ông Hảo, gia đình ông có 4 anh, chị, em ruột tham gia sản xuất cà phê với tổng diện tích khoảng 12ha. Với diện tích này ngoài nguồn nhân lực trong nhà, 4 gia đình cần thêm khoảng 20 nhân công ngoại tỉnh.

"Cái khó hiện nay là nguồn nhân lực ở trong tỉnh không đủ, nhà nhà, người người đều bước vào vụ thu hoạch cà phê nên rất khó thuê mướn. Nếu trong thời gian tới các thành viên trong gia đình không thuê mướn được nguồn nhân công ngoại tỉnh thì sẽ giữa các gia đình sẽ trao đổi nhân công với nhau và thu hoạch theo hình thức cuốn chiếu" - ông Hảo chia sẻ về kế hoạch dự phòng của gia đình.

Chuẩn bị các phương án ứng phó 

Trước những khó khăn nêu trên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng đã đề ra giải pháp bảo đảm nhân công cho vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2021.

Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng đã đề xuất các địa phương nói chung, đặc biệt là các huyện có diện tích cà phê lớn như Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng… tiến hành rà soát, thống kê diện tích, dự báo sản lượng cà phê thu hoạch trên từng địa bàn.

Qua đó, các địa phương cần nắm chắc tổng diện tích, sản lượng và nguồn lao động của từng hộ dân. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến các hộ gia đình neo đơn, các hộ có người mắc kẹt ở vùng dịch.

Trên cơ sở đó, các địa phương sẽ thành lập các tổ, đội, nhóm hộ để thực hiện đổi công. Mặt khác, các địa phương cũng cần rà soát lực lượng lao động trên địa bàn có nhu cầu thu hái cà phê để giới thiệu cho nông dân thỏa thuận, thuê mướn hợp lý.

Việc làm này sẽ giúp người nông dân tránh được việc bị lợi dụng tình hình khan hiếm lao động để đẩy giá nhân công lên cao. Trong quá trình chuẩn bị, các địa phương cũng cần huy động các tổ chức đoàn thể trên địa bàn thành lập các tổ, đội hỗ trợ các gia đình khó khăn thu hoạch cà phê. 

Bên cạnh các nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng cũng đã có văn bản đề nghị Sở Lao động Thương Binh và Xã hội chỉ đạo, hướng dẫn các trung tâm giới thiệu việc làm có giải pháp hỗ trợ các địa phương. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Tỉnh Đoàn phối hợp với các địa phương để huy động hội viên có các giải pháp hỗ trợ nhau trong công tác thu hoạch cà phê niên vụ 2021.

Phan Tuấn (Báo Lao Động)

Giá cà phê tăng lên mức cao nhất trong 4 năm qua khi Brazil gặp những bất lợi về thời tiết và Việt Nam đối mặt với các hạn chế do đại dịch Covid-19.

Theo CNN, giá hạt cà phê Robusta gần đây tăng tới 2.024 USD/tấn, mức cao nhất trong 4 năm qua. Giá hạt cà phê Arabica cho vụ tháng 12 tới cũng tăng 3%, tiếp nối đà tăng giá 18% trong tháng 7 vừa qua.

Giới phân tích chỉ ra tình hình thời tiết khắc nghiệt tại Brazil cũng như những hạn chế do dịch Covid-19 gây ra tại Việt Nam là nguyên nhân dẫn đến xu hướng tăng giá cà phê.

“Brazil là nước sản xuất cà phê lớn nhất trên thế giới”, CNN dẫn lời Warren Patterson - người đứng đầu bố phận chiến lược hàng hóa tại ING. “Trong năm nay, họ đã trải qua đợt hạn hán tồi tệ và tiếp đến là băng giá”, ông nói thêm.

Để đối phó với rủi ro về giá, Starbucks quyết định mua cà phê trước thời hạn và lên kế hoạch phòng ngừa để chốt giá.

Tuy nhiên, J.M Smucker (SJM) - công ty sở hữu thương hiệu cà phê Folgers và Dunkin - cho biết việc tăng giá sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, đặc biệt chi phí vận chuyển và đóng gói.

“Khi bước vào năm tài chính, chúng tôi dự đoán lạm phát chi phí dừng ở mức 1% tổng giá vốn hàng bán. Giờ đây, lạm phát chi phí đang tăng cao, ở mức một con số”, Tucker Marshall - giám đốc Tài chính J.M Smucker - nhận định.

Tương tự, giá dầu gần đây bắt đầu tăng sau những ảnh hưởng từ cơn bão Ida. Các cơ quan quản lý cho biết hơn 95% cơ sở sản xuất dầu ở Vịnh Mexico đã đóng cửa vì ảnh hưởng của cơn bão.

Thêm vào đó, trước khi cơn bão Ida xuất hiện, giá dầu thô Brent cũng tăng 11,5% trong tuần trước nhờ sự lạc quan về khả năng kiểm soát biến chủng Delta của Trung Quốc.

Linh Đỗ (zing)

Page 96 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]