Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang tất cả các thị trường 11 tháng đầu năm 2017 đều sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất trung bình chỉ đạt 5.258 USD/tấn, giảm gần35% so với cùng kỳ.
Giá xuất khẩu giảm mạnh
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, mặc dù lượng hạt tiêu xuất khẩu của nước ta trong 11 thángđầu năm 2017 tăng 20,3% so với cùng kỳ, đạt 202.873 tấn, nhưng giá trị thu về lại giảm tới 21,5%, chỉ đạt 1,07 tỷ USD, do giá hạt tiêu xuất khẩu giảm mạnh 34,7% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt mức 5.258 USD/tấn.
Riêng trong tháng 11/2017 giá xuất khẩu cũng tiếp tục giảm 1,6% so với tháng 10, và giảm mạnh 38,5% so với cùng tháng năm 2016, đạt trung bình 4.540 USD/tấn.
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang thị trường Mỹ - thị trường hàng đầu về tiêu thụ hạt tiêu của Việt Nam trong 11 thángđầu năm nay cũng sụt giảm tới 33,7% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 5.736 USD/tấn. Lượng hạt tiêu xuất khẩu sang Mỹ cũng giảm 3,5% và kim ngạch giảm 36% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 36.500 tấn, tương đương 209,36 triệu USD, chiếm 18% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 19,6% trong tổng kim ngạch.
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang Ấn Độ - thị trường lớn thứ 2 cũng giảm mạnh 35,7% so với cùng kỳ, đạt 4.929 USD/tấn; do giá xuất khẩu rẻ nên mặc dù lượng xuất sang Ấn Độ tăng trên 42%, nhưng trị giá thu về lại giảm 8,6%, đạt 14.692 tấn, trị giá 72,41 triệu USD, chiếm 7,2% trong tổng lượng và chiếm 6,8% trong tổng kim ngạch.
Hạt tiêu xuất khẩu sang Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - thị trường lớn thứ 3, giá cũng giảm mạnh 35,3% so với cùng kỳ, đạt 4.770 USD/tấn; lượng xuất khẩu tăng nhẹ 2,9% so với cùng kỳ, nhưng trị giá lại giảm mạnh 33,5%, đạt 12.686 tấn, tương đương 60,52 triệu USD.
Hạt tiêu của Việt Nam xuất khẩu sang các nước EU nói chung chiếm 12% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 14% trong tổng kim ngạch, đạt 24.458 tấn, trị giá 149,75 triệu USD, giảm 4,3% về lượng và giảm 34,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á nói chung chỉ chiếm 5% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và cũng giảm mạnh 22% về lượng và giảm 50% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Năm nay giá hạt tiêu xuất khẩu sang tất cả các thị trường đều sụt giảm so với năm ngoái; trong đó các thị trường xuất được với mức giá cao gồm có: Nhật Bản 7.970 USD/tấn, giảm 25,5% so với cùng kỳ; Bỉ 7.479 USD/tấn, giảm 19%; Thái Lan 6.512 USD/tấn, giảm 33%; Hà Lan 6.370 USD/tấn, giảm 30%; Anh 6.631 USD/tấn, giảm 28%.
Ngược lại, các thị trường xuất khẩu hạt tiêu ở mức giá rẻ như: Philipines 4.084 USD/tấn, giảm 47%; Thổ Nhĩ Kỳ 4.390 USD/tấn, giảm 33% và Ai Cập 4.438 USD/tấn, giảm 38%;
Thị trường đáng chú ý nhất trong 11 tháng đầu năm nay là thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, do giá xuất khẩu ở mức gần thấp nhất thị trường, nên lượng xuất khẩu tăng rất mạnh, tăng 92% về lượng và tăng 28% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái
Giá hạt tiêu trong nước giảm mạnh
Trong tháng 12/2017 giá hạt tiêu tiếp tục giảm so với tháng 11. Tại Đắc Lắc, Đắc Nông, Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai giá chỉ còn 71.000 – 72.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg so với tháng 10/2017 và giảm mạnh 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá hạt tiêu tại Gia Lai giảm mạnh nhất 6.000 đồng/kg, xuống mức 70.000 đồng/kg. Nguyên nhân giá giảm, do lượng hạt tiêu tồn kho từ vụ trước còn khá nhiều.
Năm 2018 không mấy lạc quan
Giá hạt tiêu trong nước vào cuối năm 2017 giảm gần 50% so với cuối năm 2016, do diện tích hạt tiêu trên cả nước vượt quy hoạch, dẫn đến cung vượt cầu trong khi nhu cầu thị trường hạn hẹp.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam gặp khó, do phải cạnh tranh mạnh với hạt tiêu Brazil. Năm nay, sản lượng tiêu Brazil tăng mạnh, ước tăng thêm 20.000-30.000 tấn so với năm >2016, giá hạt tiêu Brazil rẻ hơn hạt tiêu Việt Nam, giá chỉ khoảng 80.000 đ/kg; hơn nữa phương thức giao hàng nhanh, hạt tiêu không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Dự báo, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam năm 2018 sẽ tiếp tục tăng mạnh và có khả năng vượt mức 200.000 tấnđã đạt được trong năm 2017. Bên cạnh đó, sản lượng hạt tiêu của các nước Brazil, Campuchia, Ấn Độ… cũng tăng, khiến cho nguồn cung trên thế giới tăng cao.
Vì thế, giá tiêu trong năm 2018 được dự báo vẫn ở mức thấp cho tới đến khi nào diện tích, sản lượng tiêu Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung giảm xuống, thì giá tiêu mới có thể tăng.
Thùy Linh (Trí Thức Trẻ)
Đầu năm 2017, các chuyên gia ngành điều dự báo năm nay xuất khẩu (XK) nhân điều vẫn thuận lợi và sẽ lần đầu tiên vượt mốc 3 tỷ USD và ước đạt khoảng 3,3 tỷ USD (tính cả các sản phẩm phụ từ điều). Tuy nhiên, đến hết tháng 11/2017, đã có thể khẳng định riêng về XK nhân điều sẽ vượt mốc 3,5 tỷ USD.
Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho hay, trong 11 tháng đầu năm 2017, XK điều đã đạt 3,214 tỷ USD, tăng 1,1% về lượng và 23,7% về giá trị so cùng kỳ 2016. Trên cơ sở đó, ông Đỗ Hoàng Giang, PCT Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) khẳng định XK điều cả năm 2017 chắc chắn sẽ lần đầu tiên vượt mốc 3,5 tỷ USD. Ông Tạ Quang Huyên, GĐ Cty Hoàng Sơn 1 (Bình Phước), cũng cho rằng XK điều 2017 sẽ đạt giá trị trên 3,5 tỷ USD.
Những lời khẳng định nói trên hoàn toàn có cơ sở, bởi trong tháng 12, chỉ cần XK được gần 300 triệu USD, ngành điều sẽ vượt mốc 3,5 tỷ USD. Mà nhìn lại XK điều trong năm 2017, từ tháng 5 đến tháng 10, đều đạt từ hơn 300 triệu USD/tháng trở lên. Với những dữ liệu như trên, XK điều trong tháng 12 hoàn toàn có thể đạt mức trên dưới 300 triệu USD, qua đó giúp cho XK điều cả năm chắc chắn vượt mốc 3,5 tỷ USD, cao hơn tới vài trăm triệu USD so với mục tiêu đề ra hồi đầu năm là 3,3 tỷ USD.
Vì sao giá trị XK điều tăng trưởng mạnh trong năm 2017? Nguyên nhân chính là cán cân cung - cầu. Ông Tạ Quang Huyên cho hay, do nhu cầu của thị trường thế giới càng ngày càng tăng cao, nên tình hình tiêu thụ nhân điều trong năm 2017 rất tốt. Trong khi nhu cầu tiêu thụ nhân điều vẫn tăng mạnh thì nguồn cung điều nguyên liệu lại sụt giảm mạnh ở nhiều nước sản xuất lớn, trong đó có Việt Nam.
Điều đó đã làm cho giá nhân điều tăng cao trên toàn cầu, giá điều XK của Việt Nam cũng ở mức cao kỷ lục. 11 tháng đầu năm 2017, nhân điều XK của Việt Nam có giá bình quân là 9.926 USD/tấn, cao hơn 22,3% so với 11 tháng năm 2016. XK sang Hồng Kông đạt mức giá cao nhất, bình quân là 11.553 USD/tấn.
Điều đáng chú ý là các DN điều Việt Nam, ngay sau khi nhận thấy niên vụ điều 2016/2017 sẽ bị giảm mạnh về năng suất, sản lượng do ảnh hưởng thời tiết bất lợi, đã chủ động đẩy mạnh NK điều thô từ châu Phi. 11 tháng đầu năm 2017, các DN đã NK 1,21 triệu tấn điều thô, tăng tới 27,4% so với cùng kỳ 2016. Cộng với hơn 250.000 tấn điều thô thu hoạch trong nước và nguồn điều nhập về từ Campuchia và Lào, các DN điều Việt Nam đã chủ động tạo được nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ cho chế biến XK.
Ông Tạ Quang Huyên cho hay, từ nguồn điều thô NK, qua chế biến của các DN Việt Nam, giá trị thặng dư tăng thêm được khoảng 20%. Như vậy, với 1,21 triệu tấn điều thô đã NK về trong 11 tháng, giá trị thặng dư tăng thêm được sau khi qua chế biến tương đương với hơn 240 ngàn tấn điều thô, gần bằng sản lượng điều của Việt Nam vụ 2016/2017.
Về thị trường, XK nhân điều sang đa số các thị trường đều tăng về giá trị trong 11 tháng đầu năm 2017. Tăng mạnh nhất là Bỉ với mức tăng tới 195,27%. Trong 10 thị trường lớn nhất, tăng trưởng mạnh nhất tại thị trường Nga với mức tăng 56,35%, tiếp đó là Hà Lan với 44,69%, Thái Lan 41,42%...
Về XK điều trong thời gian tới, theo ông Tạ Quang Huyên, sẽ còn tiếp tục thuận lợi và giữ được giá cao ít nhất là trong nửa đầu năm 2018. Bởi trong 6 tháng đầu năm là thời điểm giáp hạt, nguồn cung nhân điều nhỏ hơn cầu một chút, nên giá sẽ không hạ và có thể còn tăng lên. Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas, dự báo XK điều trong năm 2018 có thể đạt từ 3,5 - 3,7 tỷ USD.
Nhu cầu sử dụng hạt điều trên toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng sẽ là điều kiện thuận lợi cho XK điều Việt Nam trong những năm tới. Theo đánh giá của Vinacas, nhu cầu tiêu thụ hạt điều toàn cầu đang tăng khoảng 10%/năm. Còn theo Hội đồng Hạt và Quả khô quốc tế (INC), hạt điều đang chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hạt khô toàn cầu có giá trị khoảng 30 tỷ USD/năm. Dự kiến đến 2021, hạt điều sẽ chiếm thị phần 28,91%, đứng thứ 2 là hạt óc chó.
|
Việt Nam trở thành trung tâm chế biến điều lớn nhất thế giới Theo ông Tạ Quang Huyên, trung tâm chế biến điều của thế giới đã được dịch chuyển từ Ấn Độ sang Việt Nam từ cách đây 11 năm. Nhưng hồi đấy, chúng ta chỉ mới là trung tâm xuất khẩu nhân điều lớn nhất của thế giới. 2 năm trở lại đây, Việt Nam đã trở thành trung tâm chế biến và XNK điều lớn nhất thế giới. Thế giới có khoảng 3,4 triệu tấn điều nguyên liệu mỗi năm, thì Việt Nam đưa vào chế biến tới 1,6 - 1,7 triệu tấn. Các DN điều Việt Nam đã ý thức được giá trị của chất lượng, của ATTP, của thương hiệu và uy tín trong thương mại. Điều đó sẽ quyết định đến vấn đề phát triển của DN nói riêng và ngành điều nói chung. Bên cạnh đó, người Việt Nam có ưu điểm là cần cù, chịu khó và sáng tạo. Đó là điều mà phần lớn các quốc gia trồng điều không có được. Vì vậy, trong khi ngành chế biến điều ở Việt Nam đã liên tục phát triển mạnh trong nhiều năm qua và hiện đứng đầu thế giới về sản lượng chế biến, và máy móc, công nghệ, thì nhiều nước đã thất bại khi đầu tư vào lĩnh vực này. Như ở Campuchia, họ đã học Việt Nam, đầu tư xây dựng nhà máy chế biến điều từ 15 năm trước. Nhưng đến nay, hầu hết các nhà máy chế biến điều ở Campuchia đã phải đóng cửa. Nhiều nước châu Phi còn chế biến điều trước cả Việt Nam. Gần đây, một số nước châu Phi đã nhập cả máy móc, công nghệ chế biến điều từ Việt Nam, gây ra mối lo ngại cho ngành điều Việt Nam về việc sẽ bị mất nguồn điều nguyên liệu và bị cạnh tranh trên thị trường nhân điều thế giới. Thế nhưng, dù đã nhập máy móc, công nghệ của Việt Nam, nhưng các nhà máy chế biến điều ở châu Phi vẫn không đạt được hiệu quả sản xuất. Mà yếu tố then chốt chính là con người. Nhờ yếu tố con người mà năng suất điều Việt Nam hiện đang đứng đầu thế giới. Năng suất chế biến điều tính trên giá trị 1 ngày công lao động cũng đang đứng đầu thế giới. |
|
Tiềm ẩn rủi ro do phụ thuộc quá lớn nguồn điều thô nhập khẩu Tuy giá trị XK điều trong năm 2017 đạt kỷ lục mới trên 3,5 tỷ USD, giá nhân điều XK cũng đạt mức bình quân kỷ lục là khoảng 10 USD/kg, nhưng lợi nhuận của các DN lại không được như kỳ vọng. Nguyên nhân là do giá XK tuy tăng cao, nhưng không theo kịp đà tăng của giá điều nguyên liệu. 11 tháng đầu năm 2017, trong khi lượng điều nguyên liệu NK tăng 27,4% thì giá trị điều NK lại tăng tới 60,9%. Tính bình quân, mỗi tấn điều thô NK có giá 1.970 USD, cao hơn 409 USD/tấn so với giá bình quân của điều thô NK trong 11 tháng năm 2016. Tính ra, trong 11 tháng đầu năm 2017, giá điều thô NK đã tăng tới 26,2% so với cùng kỳ 2016, cao hơn mức tăng của giá nhân điều XK (tăng 22,3%). Do giá điều thô NK tăng cao, nên năm 2017 cũng là lần đầu tiên giá trị NK điều thô đã vượt mốc 2 tỷ USD (đến hết tháng 11 là gần 2,4 tỷ USD). Giá điều thô NK tăng cao có nguyên nhân không nhỏ từ việc mất mùa điều ở Việt Nam và Campuchia. Như vậy, có thể thấy dù điều thô NK đã góp phần tạo ra giá trị thặng dư không nhỏ cho ngành điều, đóng góp quan trọng vào kỷ lục XK hơn 3,5 tỷ USD, nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn điều thô NK vẫn đang tiềm ẩn những rủi ro và hạn chế không nhỏ tới sự phát triển của ngành chế biến điều Việt Nam. |
|
Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas: Lợi nhuận chưa tương xứng Việt Nam vẫn chủ yếu XK nhân điều, với giá bình quân trong năm nay khoảng 10 USD/kg. Trong khi đó, các sản phẩm giá trị gia tăng từ nhân điều khi bán ở các siêu thị tại các nước, giá tới 30 USD/kg. Như vậy, trong chuỗi giá trị của hạt điều, các DN Việt Nam chỉ chiếm khoảng 30%. Phần lớn còn lại thuộc về các nhà rang, chiên quốc tế, các nhà phân phối. Như vậy, nguồn lực, tiền vốn, công sức… mà các DN Việt Nam đã bỏ ra để chế biến điều là rất lớn mà lợi nhuận thu được lại chưa tương xứng. Để khắc phục tình trạng này, đang ngày càng có thêm nhiều DN đầu tư chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ hạt điều như điều rang muối, điều rang củi, điều mật ong, điều wasabi... Đáng chú ý là một số DN có vốn nước ngoài đến từ Mỹ, Singapore… cũng đã đầu tư nhà máy chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ hạt điều ở Việt Nam. |
Theo Sơn Trang (Nông nghiệp Việt Nam)
Giá tiêu hôm nay (3/1) vẫn theo đà giảm nhiều ngày qua, giữ ở mức giá 69.000 – 71.000 đồng. Với mức giá bình quân giảm 1.000 đồng/kg xuống 70.000 đồng.
Tuần trước, giá hồ tiêu cũng duy trì xu hướng dao động nhẹ trong khoảng 71.000 - 72.000 đồng/kg sau khi giảm sâu trong 2 ngày liên tiếp vào cuối tuần trước.
Gần đây, hạt tiêu tại Việt Nam đã bắt đầu thu hoạch, có vẻ là một trong những lý do khiến giá tiêu có xu hướng giảm trên dự đoán của số lượng hàng đầu vụ mùa mới. Tuy nhiên, dự kiến số lượng hàng vụ mới sẽ tăng mạnh từ giữa tháng Hai sau kỳ Tết Nguyên đán.
Trong năm nay, tổng nhập khẩu của Mỹ hiện đang ở mức 59.592 tấn, bao gồm 42.584 tấn tiêu đen, 5.015 tấn tiêu trắng và 11.993 tấn tiêu xay. Về hạt tiêu trắng, từ hai nước Indonesia và Việt Nam chiếm ưu thế với khoảng 93 %.
Nhập khẩu của Mỹ năm nay có thể vượt 70.000 tấn.
Với lượng giao dịch nhộn nhịp trên thị trường thế giới, giá cà phê hôm nay (3/1) sau nhiều ngày giữ ở mức ổn định đã tăng lên 300 đồng/kg. Giá cà phê tại các địa phương giao dịch ở mức 35.600 – 36.600 đồng/kg.
Giá cà phê tăng đều ở cả hai sàn
Giá cà phê hôm nay (3/1) tại Tây Nguyên đã tăng lên 300 đồng/kg sau thời gian hầu như không đổi sau kỳ nghỉ Tết Dương. Hiện giá cà phê hôm nay được thu mua trong khoảng 35.600 - 36.600 đồng/kg. Tuần trước, giá cà phê duy trì xu hướng biến động nhẹ và rải rác tại các định, với mức biến động chủ yếu là 100 đồng/kg.
Giá cả thị trường cà phê Arabica ở New York kết thúc năm 2017 giảm 7.92% và thị trường cà phê Robusta London giảm mạnh 19.64% vào cuối năm 2017. Theo thống kê của chính phủ Indonesia, xuất khẩu cà phê Robusta của nước này tháng 12 là 350.761 bao, thấp hơn cùng kì năm ngoái. Con số này, cộng với kết quả xuất khẩu khiêm tốn tương tự trong vài tháng trước đó góp phần vào xuất khẩu cà phê tích luỹ trong ba tháng đầu tháng 10.2017 – 9.2019 là 1.094.527 bao, thấp hơn 66.61% so với cùng kì năm trước hơn 548.000 bao.
Đối với nguồn cung cà phê Arabica trung hạn không có gì tác động nhiều khi lượng cung vẫn dồi dào. Dự báo về một vụ mùa bội thu ở Brazil, Mexico và Trung Mỹ. Vụ mới này đang thu hoạch và đã bắt đầu được bán ra thị trường.
Kết thúc phiên giao dịch, trên sàn ICE Europe – London, giá cà phê Robusta tăng ở tất cả các kì hạn. Kỳ hạn giao ngay tháng 1/2018 tăng 41 USD, lên 1.755 USD/tấn, trong khi kỳ hạn giao tháng 3/2018 tăng thêm 15 USD, lên 1.733 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 5/2018 tăng thêm 13 USD, còn 1.740 USD/tấn. Trong khi đó, giao dịch trên sàn ICE US – New York sôi động hơn, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 03/2017 tăng thêm 4 cent, lên 130,2 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 5/2018 tăng thêm 3,85 cent, lên 132,4 cent/lb.
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "