Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Đối với mặt hàng cà phê, 2017 là năm nửa buồn, nửa vui và tiếc rẻ. Buồn là bởi chúng ta bị mất mùa, còn vui và tiếc rẻ là bởi đây là mặt hàng tăng giá rất lớn. Năm 2018, rất có thể kịch bản sẽ ngược lại: chúng ta sẽ được mùa, nhưng giá xuất khẩu lại giảm, cho nên cũng không thể vui trọn vẹn.
Hai nửa bức tranh tương phản trong năm 2017
Các số liệu thống kê hải quan nước ta cho thấy tổng khối lượng cà phê xuất khẩu trong 11 tháng qua chỉ đạt 1,28 triệu tấn, giảm tới 21,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại đạt 2,92 tỉ đô la Mỹ, chỉ giảm nhẹ 2,8%.
Giá cà phê xuất khẩu bình quân trong 11 tháng đầu năm 2017 đạt 2.279 đô la Mỹ/tấn, tăng vọt tới 23,8% so với cùng kỳ năm 2016 và đây cũng là mức giá kỷ lục của nước ta trong hơn 20 năm trở lại đây.
Thế nhưng Brazil, quốc gia hàng năm chiếm tới 25-30% tổng khối lượng cà phê xuất khẩu của thế giới, lại ở trong tình trạng gần như ngược lại.
Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy, từ mức đỉnh 3.036 đô la Mỹ/tấn vào tháng 12-2016, giá cà phê xuất khẩu của nước này hầu như liên tục giảm, đến tháng 9 vừa qua chỉ còn 2.765 đô la Mỹ/tấn.
Do vậy, khoảng cách về giá xuất khẩu của nước ta so với của Brazil đã được rút ngắn đáng kể.
Cụ thể, nếu tính chung, thay vì chỉ bằng 71% trong cùng kỳ năm 2016, giá xuất khẩu bình quân chín tháng đầu năm nay của nước ta đã vươn lên bằng 80,3% của Brazil. Đây là mức giá tốt nhất chúng ta đạt được từ trước tới nay.
“Phép mầu” nào đã đẩy giá cà phê của chúng ta lên, đồng thời ép giá cà phê của Brazil xuống như vậy?
Theo số liệu thống kê và ước tính của USDA, tổng sản lượng cà phê thế giới trong năm 2017 là 9,63 triệu tấn, tăng 443.000 tấn, tương đương 4,8% so với năm 2016, đạt kỷ lục chưa từng có. Thế nhưng, điều oái oăm là trong khi cà phê chè (arabica) được mùa lớn (với 6,05 triệu tấn, thì cà phê vối (robusta) lại mất mùa nặng (3,58 triệu tấn, giảm 414.000 tấn).
Trong “rổ cà phê” khổng lồ của Brazil, cà phê arabica chiếm hơn ba phần tư, còn trong “rổ cà phê” khiêm tốn hơn nhiều của nước ta, cà phê robusta lại chiếm tỷ trọng 96%. Chính Brazil và chúng ta là tác nhân chủ yếu, hoặc ít nhất cũng là tác nhân quan trọng, gây ra tình trạng thừa và thiếu nói trên.
Giá cà phê xuất khẩu năm 2018: Phiên bản ngược 2017?
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, do được mùa quá lớn, tỷ trọng của cà phê đắt giá arabica trên thị trường thế giới trong năm 2017 tăng đột biến từ 57,5% trong năm trước đó lên 62,8%, và ngược lại, do mất mùa lớn, tỷ trọng cà phê robusta giá rẻ trong cùng kỳ giảm đột biến từ 42,5% xuống chỉ còn 37,2%, cho nên đã kéo và đẩy giá hai loại cà phê này ngược chiều nhau.
Như vậy, rất có thể giá cà phê thế giới năm 2018 sẽ diễn ra theo chiều hướng ngược lại so với năm 2017.

Trước hết, theo dự báo, hiện tượng thời tiết bất thường La Niña tại vành đai Thái Bình Dương có nhiều khả năng sẽ tác động mạnh đến nhiều nền nông nghiệp chủ yếu của thế giới, gây tác động dây chuyền đến thị trường nông sản, trong đó mặt hàng cà phê cũng không thể là ngoại lệ.
Dự báo cách đây ít ngày của USDA cho thấy, thay vì tăng vọt (570.000 tấn) như trong năm 2017, sản lượng tại “vựa cà phê arabica của thế giới” Brazil năm 2018 sẽ giảm rất mạnh (giảm hơn 400.000 tấn).
Trong khi đó, thay vì giảm mạnh (134.000 tấn) như trong năm 2017, sản lượng tại “vựa cà phê robusta của thế giới” Việt Nam năm 2018 sẽ tăng rất mạnh (180.000 tấn). Không những vậy, sản lượng cà phê robusta của ba quốc gia sản xuất loại cà phê này là Brazil, Indonesia và Ấn Độ cũng sẽ tăng khá mạnh (165.000 tấn)...
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là tổng nguồn cung cà phê trên thị trường thế giới trong năm 2018 hầu như không thay đổi so với năm 2017 và cơ cấu của hai mặt hàng cà phê nguyên liệu này sẽ trở nên cân bằng gần như “thông lệ” của thị trường cà phê trong những năm gần đây (cà phê arabica chiếm 58,8% và cà phê robusta chiếm 41,2%).
Trong điều kiện cán cân cung - cầu như vậy, có lẽ không có lý do gì để duy trì tương quan giá cà phê arabica và robusta không như “thông lệ” của thị trường cà phê thế giới trong năm 2017. Rất có thể đây cũng là lý do, nếu không phải là duy nhất thì cũng là lý do chủ yếu, khiến Ngân hàng Thế giới trong tháng 10 vừa qua dự đoán rằng, giá cà phê robusta sẽ liên tiếp giảm 0,9% trong ba năm tới, còn giá cà phê arabica thì phải đến năm 2019 mới nhúc nhích tăng.
Nguyễn Đình Bích (thesaigontimes.vn)
Là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới song cà phê Việt Nam chủ yếu xuất thô, chưa mang lại chuỗi giá trị, chưa xứng tầm với vị thế
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, niên vụ 2016-2017 xuất khẩu 26,55 triệu bao (60 kg/bao). Dự kiến niên vụ 2017-2018 xuất khẩu 26,65 triệu bao. Cà phê Việt Nam chủ yếu xuất nguyên liệu cà phê thô nên giá trị mang lại chưa cao (niên vụ 2016-2017 xuất 550.000 bao cà phê rang và 2 triệu bao cà phê hòa tan). Canh tác cà phê còn lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Chưa kể còn 120.000 ha cà phê trong nước bị già cỗi cho năng suất thấp, trái nhỏ. Trong khâu sơ chế còn hạn chế như phơi ngoài trời cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng.
Nhập khẩu ngày càng nhiều
Công ty Nghiên cứu ngành và tư vấn Việt Nam (VIRAC) vừa công bố một báo cáo cho thấy trong niên vụ 2016-2017, tổng lượng cà phê nhập khẩu của Việt Nam ước đạt 1 triệu bao (khoảng 60.000 tấn cà phê các loại), tăng 360.000 bao so với niên vụ trước. Trong đó có 160.000 bao cà phê hòa tan, 340.000 bao cà phê rang và xay, 500.000 bao cà phê hạt. Đơn vị này dự báo tổng sản lượng cà phê Việt Nam sẽ nhập khẩu trong niên vụ 2017-2018 khoảng 1,06 triệu bao. Hiện Việt Nam nhập khẩu cả cà phê nhân, cà phê rang xay, cà phê pha sẵn từ Brazil, Mỹ, Trung Quốc, Indonesia, Lào, Campuchia…
Nhiều công ty kinh doanh cà phê cho biết lâu nay Việt Nam vẫn nhập cà phê với số lượng ngày càng tăng qua các năm. Ông Nguyễn Quang Bình, Giám đốc Công ty Cà phê CTC, cho biết hằng năm Lào sản xuất khoảng 30.000 tấn cà phê, chủ yếu là Arabica, trong đó có khoảng phân nửa là được thương lái đưa về Việt Nam tiêu thụ. Còn cà phê ở Campuchia mỗi năm sản xuất chỉ vài ngàn tấn cũng được đưa hết về Việt Nam vì nước này không có thị trường cà phê. Còn theo ông Hoàng Văn Thủy, Tổng Giám đốc Công ty CP Đại Hoàng Thủy, sở dĩ cà phê ở Lào về Việt Nam là do giá bán của họ thấp hơn ở Việt Nam đến 30.000 đồng/kg nên được đưa về trộn với hàng trong nước. Cũng theo ông Thủy, cà phê Arabica trong nước chỉ có một số vùng trồng được nên số lượng hạn chế, trong khi loại này có chất lượng cao nên phải nhập khẩu về tiêu thụ.
Ngoài ra, giới chuyên môn cho biết sở dĩ Việt Nam nhập khẩu cà phê nhiều trong những năm gần đây là do các chuỗi cà phê trong nước đang rất phát triển, nhiều thương hiệu cà phê nước ngoài có mặt và mở chuỗi khắp các thành phố lớn như Starbucks, McCafé, Dunkin Donuts, Gloria Jeans, Highlands… Chưa kể các chuỗi cà phê trong nước như Trung Nguyên, Phúc Long, My Life Coffee, Coffee House, Passio… mọc lên nhiều nên lượng cà phê rang xay được tiêu thụ ngày càng lớn. Dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố hồi đầu tháng 12 cho thấy tiêu thụ cà phê nội địa của Việt Nam niên vụ 2017-2018 sẽ đạt khoảng 2,88 triệu bao, tăng 3,97% so với niên vụ trước đó.
Theo ông Nguyễn Quang Bình, phần lớn cà phê nhập khẩu là cà phê đã qua chế biến (cà phê rang xay, cà phê hòa tan) nhưng họ quy ra bao cho dễ tính. Chủ yếu hàng nhập khẩu là loại chất lượng cao để phục vụ tại các khách sạn, nhà hàng, tiệm cà phê cao cấp, cà phê trong nước chưa đáp ứng được. Do nhu cầu ngày càng nhiều nên lượng nhập khẩu cũng tăng dần. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là ngành cà phê mải tập trung xuất khẩu nguyên liệu mà bỏ quên sân nhà do yếu về chế biến. Chính vì thế, hạt cà phê Việt Nam đi qua nhiều nước, qua chế biến và nhập khẩu trở lại với giá cao gấp 2-3 lần ban đầu. Trước đây, cà phê trong nước chủ yếu được cung cấp bởi các cơ sở nhỏ lẻ bị pha trộn quá nhiều bắp, đậu nành, hương liệu; các quán cà phê cũng nhỏ lẻ chứ chưa hình thành các chuỗi cà phê lớn mạnh. Nguyên nhân là cũng như nhiều ngành nông sản khác, Việt Nam chưa chuẩn bị cho một nền công nghiệp thực phẩm mà chủ yếu vẫn bán sản phẩm thô.

Các chuỗi cà phê xuất hiện ngày càng nhiều dẫn đến lượng cà phê rang xay xuất khẩu cũng tăng đáng kể
Sản xuất, chế biến đều yếu
Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước tính trên 80% sản lượng cà phê được sơ chế khô tại các hộ gia đình với sân phơi tạm bợ như sân đất, sân đất kết hợp bạt hoặc xi măng. Do máy móc, thiết bị sơ chế của người dân còn lạc hậu, cộng với nguyên liệu thu hoạch không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về độ chín, tạp chất dẫn đến chất lượng cà phê còn thấp. Đối với chế biến cà phê bột, các cơ sở chế biến chủ yếu quy mô nhỏ lẻ với máy móc, thiết bị chế tạo trong nước, một số máy móc thủ công, chưa bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, việc pha trộn nguyên liệu thay thế và các hóa chất chưa kiểm soát được dẫn đến những lo ngại về chất lượng cà phê bột.
Cũng theo cơ quan này, chất lượng cà phê nhân xô xuất khẩu còn thấp dẫn đến giá bán chưa cao với nhiều nguyên nhân khác nhau như: sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; thu hái cà phê vẫn chủ yếu theo kiểu tuốt cành, nhiều quả xanh; hệ thống cung ứng cà phê còn phức tạp, nhiều tầng nấc trung gian dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán, không theo phẩm cấp, chất lượng…
Thống kê cho thấy tổng công suất thực tế của cà phê chế biến sâu chiếm chưa đến 10% tổng sản lượng và chủ yếu tiêu thụ trong nước. Đây là khâu cho giá trị gia tăng cao nhất, từ 70-100 triệu đồng/tấn quy nhân nhưng cũng là mặt hàng có cơ cấu thấp nhất. Về thị trường cà phê hòa tan, do chất lượng nếm thử cà phê Việt Nam chưa phù hợp với thị trường thế giới, các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư chế biến cà phê hòa tan do vốn lớn. Công tác xúc tiến thương mại chưa được chú trọng và chưa phát huy hiệu quả. Tuy là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới nhưng ngành cà phê Việt Nam chưa chủ động được thị trường, giá cả, điều tiết lượng xuất khẩu.
Ý kiếnÔng Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Intimex Group: Cần thêm thời gianNguyên tắc các chuỗi thực phẩm, đồ uống nước ngoài vào Việt Nam trước tiên phải kiểm soát chặt vấn đề an toàn thực phẩm nên thời gian đầu thường nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài vào sử dụng. Đối với cà phê, ngoài yếu tố an toàn thực phẩm còn có khẩu vị, công thức… nên việc sử dụng cà phê nhập khẩu mà không mua cà phê trong nước là hết sức bình thường. Trước đây, Starbucks vào Việt Nam cũng nhập hoàn toàn nguyên liệu từ nước ngoài nhưng sau đó dần thay thế cà phê nhập khẩu bằng cà phê trong nước. Những thương hiệu khác rồi cũng có thể làm vậy, vấn đề là cần có thời gian đủ lâu để họ tìm hiểu, lựa chọn vì so với nhập khẩu chịu thuế cao, sử dụng nguyên liệu trong nước thuận tiện và hiệu quả kinh tế cao hơn. Cà phê Việt Nam đủ chuẩn xuất khẩu đi khắp thế giới thì hoàn toàn đủ chất lượng để tiêu dùng trong nước.Về giá trị hạt cà phê, các doanh nghiệp đang có xu hướng đầu tư vào lĩnh vực chế biến cà phê để gia tăng giá trị nhưng mới đây, Bộ Tài chính lên kế hoạch đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng cà phê hòa tan có thể làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp.Ông Nguyễn Viết Vinh, Tổng Thư Ký Hiệp hội Cà phê Việt Nam: Nhập khẩu cà phê là bình thườngThông tin Việt Nam nhập khẩu 1 triệu bao cà phê nghe qua tưởng lớn nhưng so với mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hàng chục triệu bao thì con số trên cũng không nói lên được gì. Việc nhập khẩu cà phê cũng là bình thường vì nhiều nước xuất khẩu cà phê trên thế giới cũng nhập khẩu cà phê để chế biến, tiêu thụ. Nhiều khu vực có giá cà phê thấp với chất lượng bảo đảm thì doanh nghiệp họ nhập về cũng hợp lý. Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam cao thì mình xuất càng có lợi.Ông Phạm Đình Nguyên, người sáng lập Công ty Cà phê PhinDeli: Không liên quan nhiều đến chất lượngCác chuỗi cà phê, thức uống nước ngoài phát triển nhanh tại Việt Nam nên kéo theo đó sản lượng cà phê nhập khẩu vào Việt Nam tăng. Không phải cà phê của Việt Nam không ngon hay chất lượng kém nên không được sử dụng, cũng không nên đặt vấn đề các chuỗi cà phê trong nước như Trung Nguyên, Phúc Long… sử dụng cà phê trong nước và được ưa chuộng, tại sao chuỗi nước ngoài "chê" không sử dụng. Trên thực tế, các chuỗi này thường sử dụng cà phê Arabica trong khi Việt Nam chủ yếu trồng cà phê Robusta, sản lượng Arabica hạn chế. Không những vậy, cùng là Arabica nhưng giống trồng ở Việt Nam khác với những nơi khác trên thế giới, thổ nhưỡng, khí hậu khác cũng sẽ tạo nên những khác biệt về chất lượng, hương vị. Trong khi các chuỗi thức uống vận hành theo tiêu chuẩn chung, đòi hỏi sự thống nhất theo chuẩn chung về khẩu vị, công thức pha chế nên trong giai đoạn đầu khó có thể mạo hiểm sử dụng cà phê nguyên liệu tại chỗ. Nếu muốn thay đổi, điều chỉnh cũng cần có thời gian. T.Nhân ghi
Nguyễn Hải - Cao Nguyên - Ngọc Ánh (Báo NLĐ)
Kính gửi : QUÝ CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN MASCOPEX
- Căn cứ Điều lệ Công ty cổ phần Mascopex ;
- Căn cứ Biên bản họp số 15/2017/BB-HĐQT ngày 15/12/2017 của Hội đồng quản
trị Công ty cổ phần Mascopex;
- Căn cứ quyết định số /2017/QĐ-HĐQT của Hội đồng quản trị công ty cổ phần
Mascopex.
Được sự ủy quyền của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc xin trân trọng thông báo
đến Qúy cổ đông việc tạm ứng cổ tức năm 2017 như sau :
1. Loại cổ phần : Cổ phần phổ thông
2. Mệnh giá : 10.000 đồng/cổ phần
3. Tỷ lệ tạm ứng cổ tức : 15%/ mệnh giá (1.500 đồng/1cổ phần)
4. Ngày chốt danh sách cổ đông : 17 giờ 00 ngày 31/12/2017
5. Thời gian chi trả cổ tức : Chậm nhất ngày 31/01/2018
6. Địa điểm chi trả cổ tức : Phòng Tài chính kế toán Công ty ( số 38B Nguyễn
Biểu, phường Vĩnh Hải, TP Nha Trang ). Điện thoại : 0258 3831689 ( ext : 118,201 )
7. Hình thức chi trả cổ tức : Bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản
8. Thủ tục nhận cổ tức:
- Trường hợp nhận tiền mặt: khi đến nhận cổ tức, đề nghị cổ đông xuất trình CMND và Sổ
chứng nhận sở hữu cổ phần. Trường hợp nhận hộ phải có thêm giấy ủy quyền xác nhận của
địa phương/giấy ủy quyền hợp lệ đối với tổ chức và bản sao CMND của người sở hữu.
- Trường hợp nhận cổ tức bằng chuyển khoản: Đối với các cổ đông đã đăng ký nhận cổ tức
bằng chuyển khoản trước đây không phải đăng ký lại. Đối với các cổ đông chưa đăng ký
nhận cổ tức bằng chuyển khoản, đề nghị gửi thông báo số tài khoản về Phòng Tài chính kế
toán.
Trân trọng thông báo!
Giá nhiều mặt hàng nông sản sụt giảm trong năm 2017 khiến người nông dân chịu thiệt.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, nhìn lại năm 2017, giá cà phê nội địa có xu hướng giảm do nguồn cung nội địa đang tăng lên vì vào vụ thu hoạch rộ và sức mua yếu từ các nhà nhập khẩu bởi lượng cà phê vụ cũ tồn kho của các nhà nhập khẩu đang tương đối nhiều. So với tháng 11, giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên trong tháng cuối năm 2017 giảm 1.200 - 1.400 đồng/kg, xuống còn 35.000 - 35.800 đồng/kg.
Thị trường hạt tiêu trong nước biến động giảm trong tháng 12-2017. So với tháng trước, giá tiêu tại các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai giảm 5.000 đồng/kg, xuống còn 71.000 - 72.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai giảm mạnh nhất 6.000 đồng/kg, xuống mức 70.000 đồng/kg. Nguyên nhân giá tiêu giảm là do lượng tiêu tồn kho từ vụ trước chuyển sang ước tính còn khá nhiều.
Dự báo xu hướng giá thấp có thể sẽ còn duy trì trong năm 2018 do sản lượng tiêu ngày càng tăng cao trên toàn cầu. Nhìn chung trong cả năm 2017 giá hạt tiêu trong nước biến động giảm tới gần 50% so với thời điểm cuối năm 2016, do diện tích hồ tiêu trên cả nước vượt quy hoạch dẫn đến cung vượt cầu trong khi nhu cầu thị trường hạn hẹp.

Giá tiêu trong năm 2017 giảm gần 50% so với năm trước, cũng như nhiều nông sản "mất giá" khác, nguyên nhân là do cung vượt cầu.
Buồn nhất năm 2017 có lẽ là người chăn nuôi heo. Giá heo hơi biến động tăng nhẹ trong tháng cuối năm 2017nhưng hiện nay vẫn dưới giá thành, chỉ ở mức 26.000 - 29.000 đồng/kg. Người nuôi heo vẫn lỗ từ 500.000 đồngđến 1 triệu đồng/con, nhiều trang trại phải treo chuồng, giảm đàn nhưng vẫn thua lỗ vì giá heo không phục hồi. Nguyên nhân nguồn cung vượt cầu, thị trường Trung Quốc ngừng tiêu thụ. Dự báo đến Tết, giá heo Tết nhiều khả năng sẽ tăng thêm do các cơ sở chế biến đang tập trung giết mổ lợn để sản xuất các loại thực phẩm phục vụ nhu cầu Tết của người dân nhưng không nhiều.
Dù giá điều tăng nhưng người nông dân vẫn bị thiệt hại nặng nề do mất mùa điều, năng suất giảm 30%-80% do thời tiết bất lợi, sâu bọ hoành hành.
Theo Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2017 đạt 36,4 tỉ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2016. Nhập khẩu nông lâm thủy sản năm 2017 đạt gần 28 tỉ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, trong năm 2017, ngành nông nghiệp xuất siêu 8,6 tỉ USD.
Nguồn: PLO
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "