PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Ngay giới phân tích thị trường và nhiều nhà kinh doanh cũng phải chưng hửng khi giá trên các sàn phái sinh cà phê trong thời gian qua tăng với cường độ mạnh và tốc độ cũng rất nhanh.

Tại nhiều phiên, giá đóng cửa sàn arabica tăng vài trăm đô la Mỹ mỗi tấn (tương đương từ 8-10 cts/lb), lặp lại nhiều lần mà trước đây rất hiếm khi được chứng kiến trên sàn này.

Thị trường đã đưa ra nhiều lý giải vì sao các sàn cà phê sôi sục như vùng cà phê Brazil bị sương giá trúng ngay vào năm mất mùa theo chu kỳ hai năm một lần tại một số vùng cà phê arabica của nước xuất khẩu số 1 thế giới, khủng hoảng logistics làm giật cục bất thường trong khâu lưu thông hàng hóa từ nguyên liệu đến thành phẩm, dịch Covid-19 bùng lên không thể lường trước tại nhiều nước sản xuất làm thu hoạch và giao hàng không liền khúc… Có phải vì thế mà giá cà phê phái sinh tăng mạnh, nhất là trên sàn arabica trong những tuần gần đây?

Thật vậy, diễn biến giá cà phê thế giới mới đây cho thấy tâm lý của giới kinh doanh còn lo ngại một thứ gì đó phía trước như một bất ổn chưa lường hết trên thị trường và họ sống với dự cảm ấy…

Những thực tế đã xảy ra cộng với tâm lý lo xa làm giá cà phê trên sàn arabica sau một năm tính đến hết ngày 24-11-2021 tăng 98,22% tức trong kỳ được cộng thêm 121,60 cts/lb hay 2.860 đô la Mỹ/tấn chốt tại 245,40 cts/lb (123,80-245,40 cts/lb); nếu như tính riêng từ đầu năm 2021 đến nay sàn arabica tăng 109,15 cts/lb hay 2.406 đô la/tấn tức tăng 80,11%. Đây cũng là vùng đỉnh giá của sàn này tính từ chục năm trở lại.

Giá robusta tuy chạm đỉnh cao 10 năm trước khi sàn anh em bên kia bờ Đại Tây Dương đạt tới đó, nhưng giá robusta mức độ tăng giảm khi nhặt khi khoan. So với “tiến độ” tăng của giá arabica, robusta không bằng vì trong vòng 52 tuần chỉ tăng 58,95% thêm được 846 đô la/tấn (2.281-1.435 đô la/tấn) còn từ đầu năm nay mức tăng trên sàn này cũng xấp xỉ cả năm là tăng 56,77% tức 826 đô la/tấn (2.281-1.455). Các nhà kinh doanh cà phê Việt Nam thường sử dụng giá sàn robusta London để tham chiếu.

Lo xa tồn kho giảm

Nhìn vào các con số, tồn kho đạt chuẩn để được đấu giá trên hai sàn đến nay vẫn chưa đến nỗi tệ. Đến tuần trước, thống kê tồn kho loại này của sàn arabica là 100.853 tấn so với 85.195 tấn vào cuối năm 2020, còn tại London, khối lượng robusta là 108.080 so với 138.070 tấn.

Nếu như tồn kho cà phê đạt chuẩn thường được giới kinh doanh sử dụng để hô giá trên sàn, thì đáng ra sàn robusta phải ở thế mạnh hơn do giảm nhiều hơn, trong khi arabica vẫn đang còn cao hơn trên chục ngàn tấn so giữa hai kỳ báo cáo.

Ở đây có thể giải thích rằng lo lắng cho tồn kho đạt chuẩn giảm trên hai sàn là có thực và sắp tới, với dự báo sản lượng năm nay của hai nước xuất khẩu arabica lớn nhất là Brazil và Colombia đang có vấn đề. Nhưng để giá arabica dậy sóng còn do thông tin rằng nhiều hợp đồng đến thời giao hàng không lên tàu kịp với khối lượng quanh 300.000 tấn từ Brazil, Colombia và Peru. Giá trên sàn càng tăng, giá nguyên liệu tại các nước xuất xứ càng cao, khả năng thực hiện giao hàng càng xa vời. Vì vậy, không còn cách nào khác, các nhà kinh doanh phải mua lại hàng giấy trên sàn, tức dùng công cụ tài chính để bù vào những thua lỗ có thể xảy ra do không nhận được hàng thực. Yếu tố này đã thu hút thêm sức mua của các lực lượng đầu tư tài chính trên sàn, khiến giá cà phê phái sinh càng tăng như vũ bão.

Điều này cũng phản ánh trên vị thế kinh doanh của các quỹ đầu tư tài chính. Nếu như cuối năm ngoái, khối lượng hợp đồng dư mua trên các kỳ hạn giao dịch của London là 4.622 và New York chỉ 20.788 lô, thì đến giữa tháng 11-2021 London tăng lên 33.420 hay 334.200 tấn và New York 58.314 hợp đồng hay 993.670 tấn. Riêng tại sàn arabica, khối lượng cà phê mua khống đã đạt gần đỉnh cao lịch sử của sàn này là 59.252 lô.

Lượng tồn kho cà phê khả dụng tại hai vùng tiêu thụ lớn nhất thế giới là châu Âu và Mỹ tính đến giữa tháng 11 vẫn nằm trong vùng an toàn. Ở Bắc Mỹ 361.357 tấn và châu Âu 866.538 tấn, tương đương với lượng nguyên liệu có thể thỏa mãn nhu cầu chế biến và tiêu thụ từ 12-15 tuần.

Tại sao robusta túc tắc, arabica nóng vội?

Những thay đổi mới đây về ước báo sản lượng cà phê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) có ảnh hưởng khá lớn lên cường độ tăng trên từng sàn cà phê dù giá London đạt đích cao 10 năm trước sàn New York. USDA cho rằng sản lượng niên vụ mới 2021-2022 của nước sản xuất robusta lớn nhất thế giới là Việt Nam tăng lên 31,1 triệu bao (bao = 60 ki lô gam) so với dự báo trước là 30,8 triệu bao. Lượng tồn kho đầu kỳ của Việt Nam cũng rất lớn, chừng 395.000 tấn do thiếu container rỗng. Giới kinh doanh đang trông chờ lượng hàng lớn từ Việt Nam ra thị trường. Tâm lý này đã lấn át lực đặt cược trên sàn robusta.

Ngược lại, USDA dự đoán sản lượng của hai nước xuất khẩu arabica lớn nhất thế giới giảm. Họ ước xuất khẩu cà phê Brazil năm kinh doanh này giảm 27% đạt 33,2 triệu bao so với năm ngoái, là năm Brazil xuất khẩu cao kỷ lục tới 45,67 triệu bao, Colombia có sản lượng giảm xuống còn 13,8 triệu bao so với năm ngoái là 14,1 triệu bao.

Người trên thị trường thấy rằng khả năng kéo 300.000 tấn hàng arabica đã ký mua khỏi các nước Nam Mỹ sẽ rất khó nhọc. Tin một số nhà xuất khẩu tại đó đề nghị thanh lý hợp đồng đền bằng tiền… đã làm giá trên sàn arabica càng nóng sốt.

Giá phái sinh đi tới đâu?

Cách nay 10 năm, sau đợt khủng hoảng 2008-2009, giá cà phê phái sinh đã có dịp lập các đỉnh cao nhờ các chương trình kích cầu thời ấy. Đỉnh cao nhất bấy giờ của robusta là trên 2.600 đô la/tấn và arabica trên 306 cts/lb.

Mức đỉnh vừa xác lập trên hai sàn với London 2.357 đô la/tấn và New York 248.20 cts/lb vẫn còn xa mới tới các đỉnh cũ ấy. Không phải không có lý để người trên thị trường kỳ vọng lịch sử sẽ được lặp lại.

Tuy nhiên những trở lực phía trước còn nhiều. Sàn arabica sẽ gặp đúng vấn đề như robusta hiện nay khi sản lượng năm sau (bắt đầu thu hoạch robusta từ tháng 4 và arabica từ tháng 7-2022) của Brazil với dự báo của thị trường không dưới 60 triệu bao.

Hơn nữa, thị trường cà phê vốn rất nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ. Đối mặt với lạm phát tăng mạnh, rất có thể giới hoạch định chính sách kinh tế Mỹ sẽ thu hồi nhanh chương trình kích cầu hay tăng sớm lãi suất điều hành, và một khi khủng hoảng logistics được giải vây sau kỳ mua sắm cao điểm tại các nước tiêu thụ trong những ngày còn lại của năm 2021, thì đó là lúc giá cà phê trên cả hai sàn dù có nóng đến đâu cũng phải dịu lại.

Cũng cần thấy rằng giá hai sàn có lúc sôi sục nhưng giá cà phê nội địa tại các nước xuất khẩu dù có tăng nhưng một cách khoan thai, chậm rãi. Giá phái sinh robusta lên mức cao nhất 10 năm nhưng giá cà phê nguyên liệu lại y nguyên, vẫn quanh mức 41,5-42 triệu đồng/tấn, là mức cao nhất tính từ bốn năm trở lại. Nếu như giá nội địa đua cho bằng thì nay đã có thể lên 50 triệu đồng!

Như vậy, có thể thấy rằng hai thị trường hàng thực và hàng giấy không nhất thiết phải như nhau. Tính âm trầm của thị trường hàng thực nói lên sự bền bỉ của lao động, chịu đựng nhưng được sống với nghề lâu dài. Cái xốc nỗi của hàng giấy nhuốm màu thời vụ và thất thường hơn, giá lên nhanh nhưng tuột cũng nhanh.

Người kinh doanh hàng thực cần phải biết “thế cuộc” trên sàn hàng giấy nhưng không nhất thiết phải căng thẳng theo những co giãn của thị trường hàng giấy, vốn là một công cụ tài chính thiên về đầu cơ hơn là cách kiếm tiền cần mẫn của nhà nông hàng ngày.

Nguồn: thesaigontimes.vn

Trong tuần qua, giá lúa, gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung có xu hướng ổn định.

Số liệu từ Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho thấy, tại thành phố Cần Thơ, giá lúa không có sự biến động. Cụ thể, Jasmine là 6.700 đồng/kg, IR50404 là 5.700 đồng/kg…

Tại Sóc Trăng, giá lúa vẫn giữ nguyên so với tuần trước như: Đài thơm 8 là 7.500 đồng/kg, ST24 là 8.250 đồng/kg; OM4900 là 7.500 đồng/kg; riêng OM6976 tăng 150 đồng/kg đạt 6.650 đồng/kg…

Tuy nhiên, tại Hậu Giang, Đài thơm 8 giảm 300 đồng/kg còn 7.100 đồng/kg; còn các loại lúa khác vẫn giữ ổn định như:  OM5451 ở mức 6.500 đồng/kg; IR50404 là 6.000 đồng/kg.

Tại Kiên Giang, lúa IR50404 ổn định ở mức 6.450 đồng/kg; còn OM 5451 ở mức 6.100 đồng/kg.

Thị trường An Giang cũng cho thấy giá lúa, gạo ổn định. Cụ thể, nếp vỏ khô 6.600 - 6.900 đồng/kg; lúa OM 5451 từ 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa Nhật từ 7.500 - 7.600 đồng/kg; lúa OM 380 từ 5.400 - 5.600 đồng/kg; Lúa OM từ 6.000 - 6.200 đồng/kg. Về giá gạo: gạo Hương lài 19.000 đồng/kg; gạo sóc thường 14.000 đồng/kg; gạo sóc Thái 18.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen 20.000 đồng/kg; gạo thường 11.500 - 12.000 đồng/kg.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang cho biết, hiện nay, lúa vụ Thu Đông trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch được 41.944 ha/161.103 ha; ước năng suất 5,58 tấn/ha; tổng sản lương cả vụ khoảng 998.838 tấn. Đến nay, sản lượng đã thu hoạch và tiêu thụ 230.047 tấn, còn lại từ đây đến cuối vụ Thu Đông 768.791 tấn. Trong đó, theo thông tin nhu cầu từ các doanh nghiệp sẽ cần khoảng 400.000 tấn lúa, nếp các loại để đáp ứng các hợp đồng xuất khẩu.

Để chủ động hỗ trợ người dân, các hợp tác xã tiêu thụ lúa, mới đây Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các địa phương tăng cường hoạt động mời gọi, kết nối để hỗ trợ người sản xuất trong việc hình thành chuỗi liên kết - tiêu thụ trong thời gian tới.

Hiện nay, bà con nông dân trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đang bước vào thu hoạch lúa vụ Mùa, so với các vụ khác trong năm, việc sản xuất lúa vụ này gặp nhiều khó khăn do chịu nhiều ảnh hưởng bởi yếu tố bất lợi của thời tiết, chi phí vật tư đầu vào tăng cao.

Theo bà con nông dân sản xuất lúa vụ Mùa trên địa bàn tỉnh, hiện nay, giá lúa đang dao động trong khoảng 4.900-5.600 đồng/kg, giảm so vụ Mùa năm ngoái từ 500-800 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, nông dân thu lãi rất thấp, thậm chí thua lỗ nếu thuê mướn ruộng để canh tác.

Hiện nông dân phía Nam đang tập trung xuống giống lúa vụ Đông Xuân 2021 - 2022 chính vụ. Nhiều địa phương phấn đấu xuống giống lúa vụ Đông Xuân 2021 - 2022 dứt điểm trước 30/12/2021. Tính đến ngày 15/11/2021, các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 351,9 nghìn ha lúa Đông Xuân sớm, bằng 120,9% cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tiến độ gieo trồng lúa Đông Xuân 2021 nhanh hơn cùng kỳ do vụ lúa Hè Thu kết thúc sớm, thời tiết khô ráo, các địa phương tranh thủ xuống giống tránh hạn mặn.

Trong khi giá lúa, gạo ở thị trường trong nước ổn định thì trên thị trường gạo châu Á, giá gạo xuất khẩu ở Ấn Độ và Thái Lan giảm trong tuần qua do đồng nội tệ yếu đi và nguồn cung trong nước tăng. 

Phiên 3/12, giá gạo đồ 5% tấm của nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Ấn Độ giảm so với mức giao dịch 354-360 USD/tấn trong tuần trước xuống còn từ 353-358 USD/tấn.

Một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada ở bang Andhra Pradesh, miền Nam Ấn Độ cho biết: “Nguồn cung vụ Hè đang tăng. Tuy nhiên, đợt mưa sớm tuần này có thể làm chậm vụ thu hoạch tại một số bang phía Đông”.

Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan đã giảm từ 390-403 USD/tấn trong tuần trước xuống còn 380-397 USD/tấn trong phiên 3/12.

Giới thương nhân ở Bangkok cho biết đồng baht Thái giảm 1,5% so với đồng USD trong tuần qua, dẫn đến giá xuất khẩu thấp hơn. Ngoài ra, giới thương nhân cho biết thêm Thái Lan đang có một vụ thu hoạch ngũ cốc mới dồi dào, nhưng những thách thức về logistics vẫn còn và khiến giá cước vận chuyển cao cùng với tình trạng khan hiếm tàu.

Bộ Thương mại Thái Lan cho biết nước này đã xuất khẩu 4,59 triệu tấn gạo trong giai đoạn tháng 1-10/2021.

Cùng chung xu hướng đó, giá gạo xuất khẩu Việt Nam loại 5% tấm cũng giảm từ 425-430 USD/tấn trong tuần trước, xuống còn từ 415-420 USD/tấn.

Tại thị trường nông sản Mỹ, trong phiên giao dịch cuối tuần 3/12, giá các mặt hàng nông sản tại sàn giao dịch nông sản Chicago (Mỹ) CBOT biến động trái chiều; trong đó giá ngô và đậu tương tăng, còn giá lúa mỳ giảm.

Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 3/2022 tăng 7,25 xu Mỹ (1,26%) lên 5,84 USD/bushel. Trong khi đó, giá đậu tương giao tháng 1/2022 tăng 23 xu Mỹ (1,85%) lên 12,6725 USD/bushel. Còn giá lúa mỳ giao tháng 3/2022 giảm 11,25 xu Mỹ (1,38%) xuống 8,0375 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Trong khi giá lúa mỳ giảm xuống, giới đầu tư trên sàn CBOT lại lạc quan đối với ngô và đậu tương, giữa bối cảnh  thời tiết đáng lo ngại ở Nam Brazil và Argentina.

Công ty nghiên cứu AgResource có trụ sở tại Chicago cho rằng các đợt giảm giá lúa mỳ giao tháng Ba năm sau sẽ duy trì ở mức dưới 8,20 USD/bushel. Công ty này cho hay giá ngô và đậu tương sẽ theo sát tình hình thời tiết ở Nam Mỹ, với giá ngô tháng 3/2022 sẽ trên mức 5,90 USD/bushel, trong khi giá đậu tương giao tháng 3/2022 sẽ ở mức 13 USD/bushel nếu thời tiết khô hạn ở Nam Brazil cho đến giữa tháng 12/2021.

Các nguồn tin thương mại cho biết Trung Quốc đặt mua 24-28 chuyến hàng đậu tương của Brazil và Mỹ trong tuần này.

Về thị trường cà phê thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe - London kéo dài đà tăng phiên thứ tư. Giá cà phê Robusta kỳ hạn giao ngay tháng 1/2022 tăng thêm 51 USD, lên 2.386 USD/tấn và giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 3/2022 tăng thêm 33 USD, lên 2.298 USD/tấn. Khối lượng giao dịch ở mức cao.

Trong khi đó, giá cà phê Arabica trên sàn ICE US - New York cùng xu hướng tăng phiên thứ ba. Giá cà phê Arabica giao tháng 3/2022 tăng thêm 6,75 xu Mỹ, lên 243,35 xu Mỹ/lb và giá cà phê Arabica giao tháng 5/2022 tăng thêm 6,60 xu Mỹ, lên 242,40 xu Mỹ/lb (lb=0,4535 kg). Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.

Cà phê thế giới liên tục tăng khi tình trạng hạn hán ở Brazil ảnh hưởng đến một số khu vực trồng cà phê trọng điểm, sẽ khiến niên vụ mùa 2022 rơi vào tình trạng bấp bênh.

Đây chính là yếu tố thúc đẩy giá cà phê Robusta có được sức mua lớn trong các phiên giao dịch hiện nay. Đó cũng là yếu tố hỗ trợ cho dòng vốn đổ về các sàn giao dịch cà phê nhiều hơn. Trong khi nguồn cung từ nhà sản xuất cà phê Robusta hàng đầu là Việt Nam không dễ sớm cải thiện được.

Theo đó, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên tăng thêm từ 300 - 400 đồng , lên dao dộng trong khung từ 42.600 - 43.000 đồng/kg.

Bích Hồng - Hà Chung (TTXVN)

Theo thông tin của Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, kết thúc phiên giao dịch đầu tiên của tháng 12, sắc xanh đã quay trở lại trên bảng giá các mặt hàng nông sản và nguyên liệu công nghiệp, tuy nhiên, mức suy yếu của chỉ số năng lượng và kim loại đã khiến cho chỉ số MXV-Index tiếp tục giảm phiên thứ 5 liên tiếp, về mức 2.208,48 điểm.

Dòng tiền vẫn chưa quay trở lại với thị trường hàng hóa, khi giới đầu cơ vẫn đang chờ đợi thêm các thông tin mới về biến chủng Omicron. Giá trị giao dịch toàn Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam tiếp tục suy yếu về mức xấp xỉ 3.000 tỷ đồng, giảm gần 30% so với phiên cuối tháng 11.

                                                                                 Biểu đồ MXV-Index

Giá cà-phê phục hồi trở lại trong phiên ngày hôm qua với giá Arabica đóng cửa cao hơn 0,4% lên 233,3 cents/pound, giá Robusta bật tăng mạnh mẽ 2,4% lên 2.314 USD/tấn.

Những lo ngại về nguồn cung tiếp tục là yếu tố thúc đẩy thị trường cà-phê, tuy nhiên, lực mua bị kìm hãm khá nhiều khi nhu cầu tiêu thụ trong ngắn hạn đang bị ảnh hưởng bởi sự lây lan của biến thể Omicron. Bên cạnh đó, đồng Real Brazil ngày càng mất giá khiến cho nông dân đẩy mạnh bán hàng và tìm cách hưởng lợi từ sự gia tăng của đồng USD.

Đối với nguồn cung Robusta, lượng mưa lớn ở Tây Nguyên, khu vực sản xuất cà-phê trọng điểm của Việt Nam, đang cản trở quá trình thu hoạch, chính là yếu tố thúc đẩy giá Robusta có được sức mua lớn trong phiên hôm qua. Mức chênh lệch lớn giữa hai Sở trước đó cũng là yếu tố hỗ trợ cho dòng vốn đổ về Sở ICE EU nhiều hơn.

Cùng chiều với thế giới, giá cà-phê hôm nay dao động trong khoảng 40.500-41.300 đồng/kg. Trong đó, giá cà-phê cao nhất được ghi nhận ở khu vực Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Kon Tum, còn ở Lâm Đồng là mức thấp nhất. Các khu vực cà-phê trọng điểm đều tăng giá do lo ngại nguồn cung bị chậm khi liên tục có mưa lớn ở Tây Nguyên.

Trong một diễn biến khác, giá bông tiếp tục giảm hơn 2% về 104,2 cents/pound. Ngoài những lo ngại về dịch bệnh, khối lượng xuất khẩu sang Trung Quốc đang có dấu hiệu chững lại trong những tuần gần đây, khiến cho thị trường bông mất đi động lực tăng giá. Bên cạnh đó, áp lực thanh khoản của các quỹ khi đã nắm giữ quá nhiều vị thế mua cũng là yếu tố đè nặng lên giá bông.

Giá đường trắng giảm nhẹ trong phiên hôm qua về 484 USD/tấn, còn giá đường 11 không có quá nhiều thay đổi so với phiên trước đó, vẫn duy trì ở mức 18,6 cents/pound. Sự suy yếu của giá dầu thô đang là yếu tố gây áp lực lên thị trường đường, khi sản lượng mía không dùng để sản xuất ethanol có thể làm tăng nguồn cung đường cho niên vụ tới.

Nguồn: nhandan.vn

Chiếm đại đa số trong tổng lượng cà phê nhập khẩu vào Thái Lan 9 tháng đầu năm nay, có thể nói cà phê Việt Nam đang tràn ngập ở thị trường này.

Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế, nhập khẩu cà phê của Thái Lan trong 9 tháng đầu năm 2020 đạt 48,1 nghìn tấn, trị giá 96,4 triệu USD, tăng 33% về lượng và tăng 23,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.

9 tháng đầu năm 2020, Thái Lan đẩy mạnh nhập khẩu cà phê từ hầu hết các thị trường chính, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể, cà phê Việt Nam nhập khẩu vào Thái Lan trong 9 tháng đầu năm đạt 41,8 nghìn tấn, trị giá 67,42 triệu USD, tăng 31% về lượng và tăng 23% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Với số liệu như trên, cà phê Việt Nam chiếm tới 86,8% trong tổng lượng nhập khẩu cà phê của Thái Lan.

Thị phần cà phê Việt Nam ở Thái Lan bỏ rất xa so với thị phần của các nguồn cung đứng tiếp theo như Indonesia (chiếm 4,3%), Malaysia (4%), Lào (3,5%)… Hay có thể nói là cà phê Việt Nam đang tràn ngập thị trường Thái Lan.

9 tháng đầu năm 2020, Thái Lan tăng nhập khẩu tất cả các chủng loại cà phê. Trong đó, nhập khẩu chủng loại cà phê Arabica hoặc Robusta chưa rang, chưa khử caphêin chiếm 94,7% tỷ trọng trong tổng lượng, tăng 33,4% về lượng và tăng 24% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019, đạt 45,6 nghìn tấn, trị giá 76,17 triệu USD.

Nguồn: nongnghiep.vn

Page 90 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]